Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Nghè Trần Khánh Dư ở Quan Lạn

Tài danh, công lao của Đức Thánh Trần Khánh Dư rất sâu đậm trong đời sống tinh thần của cư dân xã đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn. Ông là vị thần bảo trợ, là một phần hương hoả tinh thần của cư dân vùng biển ở đây...

< Nghè nhìn từ ngoài cổng.

Khi cộng đồng cư dân làng đảo Quan Lạn còn ở Cái Làng, họ cũng đã dựng nghè để thờ Trần Khánh Dư. Dấu vết ấy nay còn tìm thấy ở Vụng Nghè. Và khi phải dời cư đi nơi khác cùng với việc chuyển đình họ cũng đã chuyển nghè đi theo như một phần hương hoả của cả cộng đồng.

Ngôi nghè cũ được xây từ thời cư dân Cái Làng mới về lập cư ở Quan Lạn hiện nay không còn nữa. Theo di ngôn của một số bậc tiền bối thì nghè thờ Trần Khánh Dư xưa khá khang trang, được xây dựng theo kiểu chữ đinh, bốn góc có đao cong trên bờ nóc đắp nổi hình “Lưỡng Long Chầu Nguyệt”. Nghè rộng 5 gian, có hậu cung thờ nhô ra ở phía sau. Gỗ để dựng nghè toàn bộ là gỗ lim. Về trang trí nội thất, trên các vì kèo, xà, cồn đều chạm trổ khá tinh xảo với các hình hoạ tiết như rồng, mây, hoa lá, long, li, quy, phượng, hổ v.v.. Nghè có đại tự và rất nhiều câu đối sơn son thiếp vàng treo ở các hàng cột. Trong hậu cung nghè có tượng Trần Khánh Dư toạ lạc trên ngai sơn son thiếp vàng, có bài vị, sắc phong của một số triều vua...

Xung quanh ngôi nghè xưa có tường xây bao quanh ba bề, phía trước có giá quan được bày đặt, trang trí thêm các hình rồng hổ…
Dulichgo
Khi ngôi nghè làng bị hư hại, các bậc bô lão đã rước bài vị, sắc phong của Đức Thánh về phối tự tại đình hoàng. Và mảnh đất xưa làm nghè thờ Trần Khánh Dư đã được dâng vào việc dựng trường học. Sau năm 1980, trước đòi hỏi bức thiết của cộng đồng cư dân làng đảo, chính quyền địa phương đã trả lại vị trí không gian của ngôi nghè cũ và thuận để nhân dân xây dựng một ngôi nghè mới. Nghè mới có quy mô 3 gian tiền tế ở phía trước; phía sau có nhô ra một hậu cung thờ.

< Không gian kiến trúc bên trong.

Nghè được xây dựng tương đối đơn giản với tường gạch, mái ngói, khung nhà bằng nhiều loại gỗ khác nhau lim, de… Các thành phần kiến trúc được bào trơn đóng búa không có trang trí. Sau khi nghè được khánh thành vào năm 1986 dân làng lại long trọng rước bài vị, sắc phong Đức Thánh về an toạ tại nghè. Hiện tại, phần ngoại thất của ngôi nghè đã được sửa sang lại rất nhiều.
Dulichgo
Cụm di tích đình, chùa, miếu, nghè Quan Lạn đã được Bộ Văn hoá -Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 575, ngày 14-7-1990.

Nghè, miếu, chùa và đình Quan Lạn có mối quan hệ gắn bó mật thiết trong đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân địa phương. Ở những vị trí đầu bến, cửa sông cửa biển, đầu núi, nơi trung tâm làng xã Quan Lạn đều có các công trình tín ngưỡng tôn giáo được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu tư tưởng và tình cảm của người dân.

Đặc điểm của những công trình kiến trúc này phản ánh khá sâu sắc tư duy, tình cảm, lòng tôn kính những anh hùng có công với nước, bộc lộ thị hiếu thẩm mỹ của người Việt đồng bằng châu thổ sông Hồng. Đám rước từ nghè về đình và lễ hội đua thuyền truyền thống ở Quan Lạn là biểu hiện sinh động cho mối quan hệ nói trên...

Theo Nguyễn Quang Vinh (Báo Quảng Ninh)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

Chùa cổ Thiện Khánh ở làng Bác Vọng

Chùa Thiện Khánh xuất hiện vào thời gian nào cho đến bây giờ vẫn chưa ai khẳng định được. Tuy nhiên, nhiều người phỏng đoán rằng nó ra đời vào thời chúa Nguyễn Phúc Chu - một vị chúa rất sùng bái đạo Phật - khi nhà chúa chuyển thủ phủ về Bác Vọng. Sự kiện này xảy ra vào năm 1712, nghĩa là đến nay, Chùa Thiện Khánh đã tồn tại trên dưới 300 năm.

Chùa xây hướng nam, quay mặt ra dòng sông Bồ. Quá trình thám sát khảo cổ học cho thấy, chùa tọa lạc ngay phía trước phủ chính Bác Vọng. Ngoài thờ Phật, chùa còn thờ Quan Thánh, đồng thời là nơi bảo quản địa bộ, sắc phong, chúc văn... của làng. Nhiều hiện vật có giá trị hiện vẫn còn được nhà chùa lưu giữ như quả chuông đồng do thượng thư Đặng Văn Hòa cúng dường dưới thời Tự Đức, hoành phi, bia đá, các pho tượng phật, tượng hộ pháp…

Chùa Thiện Khánh (hay còn gọi là Chùa Bác Vọng Tây) ra đời từ khi nào thì đến nay vẫn chưa có một tài liệu nào đề cập đến. Theo sách “Ô châu cận lục”, vào thế kỷ XVI, ở xứ Thuận Hóa đã có một số chùa chiền, thảo am (chùa làng, chùa công) mọc lên, tiêu biểu như chùa Linh Mụ. Đến thời các vua Nguyễn, theo “Đại Nam nhất thống chí”, trong 36 chùa ở phủ Thừa Thiên đã kể tên chùa Bác Vọng. Theo các cụ cao niên, làng Bác Vọng phân chia thành hai giáp (sau này là hai làng) vẫn theo câu truyền “Đông đình, Tây tự”, nghĩa là đình ở Giáp Đông, chùa ở Giáp Tây.

Theo những tài liệu lưu trữ cho biết, tại đây lúc trước là bãi phù sa bồi, không thích hợp cho việc xây dựng công trình tín ngưỡng của làng. Như vậy, khả năng hình thành chùa Bác Vọng cùng quá trình hình thành làng Bác Vọng là ít xảy ra. Vì điều kiện hạ tầng chỗ bãi phù sa không thể xây dựng những công trình kiên cố, cho nên nhiều khả năng cùng sự di chuyển phủ về Bác Vọng, chúa Nguyễn Phúc Chu với tinh thần sùng bái đạo Phật đã cho xây dựng chùa để tiện việc lễ bái.
Dulichgo
Chùa Thiện Khánh ngày nay ngoài chức năng thờ Phật, đây còn là nơi thờ tự, bảo quản hòm bộ của làng (địa bộ, sắc phong, chúc văn...). Trong những ngày đại lễ của làng đều không thể thiếu vắng nghi thức rầm rộ mà trang nghiêm: Lễ nghinh hòm bộ từ chùa về đình để tế rồi đưa về lại chùa để thờ, bảo quản như cũ.

Khi phủ chúa dời vào Phú Xuân, đất phủ cũ Bác Vọng trở thành vùng “đất thiêng”, dùng vào việc thờ cúng, như khi dời thủ phủ vào Phước Yên, chúa Nguyễn đã cho lập tại dinh cũ Trà Bát một ngôi chùa gọi là chùa Liễu Bông (Ba) để thờ Phật và các bậc tiền bối, hay Phước Yên trở thành cựu phủ thì nơi đây được dựng miếu để thờ Chiêu võ hầu Nguyễn Hữu Dật, một vị tướng có nhiều công lao đối với các chúa Nguyễn... Như vậy, chùa Bác Vọng Tây được duy trì cho đến khi phủ chúa dời đi và dân làng Bác Vọng Tây vẫn thờ Phật cho đến ngày nay mặc dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử vùng đất xứ Thuận Hóa.

Chùa Thiện Khánh nằm quay mặt ra dòng sông Bồ (theo hướng Nam), bên cạnh đường liên xã. Qua quá trình đào thám sát khảo cổ học cho thấy, chùa tọa lạc ngay phía trước phủ chính Bác Vọng, trên thửa đất có ký hiệu T 328/5425, gồm các công trình: Cổng chùa, la thành; Hồ nước, tượng Quan Thế Âm; Cổng tam quan; Chùa (Tiền đường và chính điện); Sân vườn và một số di tích liên quan khác như nhà giảng, nhà hậu...

Hiện nay, chùa còn lưu giữ các hiện vật có giá trị như: chuông đồng; bức hoành phi; bia đá; lư hương; cây đèn; pho tượng Phật; tượng Diệt Sư; tượng Quan Công; tượng Hộ Pháp; liễn khắc câu đối...
Dulichgo
Chùa Thiện Khánh là nơi lưu giữ những giá trị về văn hóa truyền thống của cư dân địa phương, thông qua các hoạt động lễ hội, kiến trúc ngôi chùa, quy cách thờ tự... góp phần làm phong phú, đa dạng hệ thống chùa chiền ở Thừa Thiên Huế.

Chùa Thiện Khánh còn gắn liền với di tích Phủ Bác Vọng: Chùa tọa lạc ở phía trước phủ chính - một địa điểm quan trọng của di tích Phủ Bác Vọng Tây. Cùng với khu đất canh tác của nhân dân ở phía sau lưng chùa (nhân dân gọi là Thượng Phủ) là những địa điểm còn bảo lưu được nhiều dấu tích của Phủ Bác Vọng. Việc phát hiện dấu vết các công trình kiến trúc ở các hố thám sát khảo cổ học tại phủ Bác Vọng, cũng như một số di tích hiện còn ở khu vực xung quanh chùa như bờ kè, cầu cống... cho thấy đến thời kỳ chúa Nguyễn Phúc Chu, kinh tế, xã hội Đàng Trong đã có những bước phát triển đáng kể và đạt những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, những dấu vết kiến trúc tại phủ Bác Vọng đã cho thấy qui mô của phủ rất nhỏ và chỉ đơn thuần là trung tâm điều hành về hoạt động chính trị, cung thất của Chúa và các cận thần...

Tiến sĩ Phan Thanh Hải cho rằng, khu vực này chỉ đơn giản là một trung tâm đầu não về chính trị hành chính. Bác Vọng thuần tuý chỉ mang tính chất của một khu vực “đô” chứ không có phần “thị”. Nó khác hẳn sự kết hợp với phần “thị” kiểu như thời kỳ phủ chúa đóng ở Kim Long, Phú Xuân. Vì vậy, việc giữ gìn và phát huy giá trị di tích, phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục truyền thống ở địa phương là việc làm hết sức cần thiết.
Dulichgo
Chùa Thiện Khánh có mối quan hệ với vị chúa hết sức sùng bái đạo Phật là chúa Nguyễn Phúc Chu nên di tích chùa Bác Vọng Tây còn có giá trị trong việc tìm hiểu về lịch sử Phật giáo ở Đàng Trong, về các vị chúa Nguyễn...

Cùng với hệ thống các di tích lịch sử văn hóa ở huyện Quảng Điền, như: Thành Hóa Châu, khu di tích lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, phá Tam Giang, phủ Phước Yên… Chùa Thiện Khánh là một địa điểm tham quan du lịch hấp dẫn.

Theo Liễu Quán Huế
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Tu viện An Lạc, mái ấm tâm linh xứ trà B'lao

Trong truyền thống Phật giáo Đại thừa, ngôi chùa là môi trường lý tưởng cho những hành giả muốn hành trì, tu tập chuyển hóa tâm thức, cầu giác ngộ giải thoát. Ngôi chùa cũng là sự kết nối tinh thần tốt đẹp giữa Phật giáo và mọi người xung quanh qua các hình thức tu tập của chư Tăng Ni, các buổi lễ tôn giáo hoặc chương trình tu học và các buổi lễ cầu nguyện.

Tu viện An Lạc (Tp. Bảo Lộc – Lâm Đồng), với mái ngói cong vút hòa quyện vào cảnh quan thiên nhiên khi nắng chiều chợt tắt hoặc những lúc sương sớm quyện mờ, nơi thường diễn ra các hoạt động tâm linh và là điểm hành hương chiêm bái cho du khách trong và ngoài nước khi dừng chân tại xứ trà B’lao (Bảo Lộc).

< Lối đi  với hàng cau rợp bóng mát.

Vào khoảng thập niên 70 của thế kỷ trước, có một vị Tăng sĩ thuộc hệ phái Bắc tông, đến xứ B’Lao lập cốc ẩn tu, tọa lạc tại đồi Hà Giang, bên cạnh hồ Đồng Nai thượng (nay là hồ Bảo Lộc).

Năm 2001, vị Tăng sĩ phát đại tâm nguyện xây một ngôi đạo tràng để độ chúng hữu tình, đặt hiệu là Tu viện An lạc. Và, cùng từ đó người dân nơi đây quen gọi là Cốc An Lạc, Ngài đã cùng đồ chúng mở mang vùng đất quanh chùa, xây dựng thêm nhiều tịnh thất (cốc) để tiếp Tăng độ chúng. “Tiếng mõ gỏ tan miền tục lụy. Hồi chuông xua sạch nỗi si mê”, kể từ ấy, Tu viện An Lạc đã trở thành một trong những trung tâm tu học cho đến ngày nay…

< Tháp chuông 3 tầng.

Tu viện An Lạc có kiến trúc mang đậm bản sắc Á Đông, được phối hợp giữa nét kiến trúc cổ và kỹ thuật hiện đại. Chùa kiến trúc theo hình chữ “Đinh”, bao gồm 1 trệt, 1 lầu. Tầng dưới là giảng đường và Linh đường (nơi thờ chư vị hương linh quá vãng), tầng trên là chánh điện, sau chánh điện là nhà thờ tổ.
Dulichgo
Bước vào cổng tam quan, dường như mọi nhiễu nhương của thế tục khép lại đằng sau, không gian của sự tĩnh lặng được lan tỏ như thể tràn ngập mọi lối đi, tạo nên mọi cung bậc của sự xúc cảm tâm hồn, làm cảm khái tâm linh trong từng chánh niệm. Bên phải sân chùa (từ ngoài nhìn vào) là tháp chuông cao 3 tầng.

 < Sân tôn trí tượng Phật A Di Đà.

Đặc biệt, quanh sân Tu viện được bao bộc bơi những hồ nước và các tiểu cảnh. Nổi bật trong khuôn viên tu viện là hồ nước rộng, giữa hồ tôn trí tôn tượng Quán Thế Âm ngự trên con rồng làm bằng xi-măng cốt thép. Xung quanh là các hồ nước nho và những “tịnh thất” nhỏ và nhà Tăng.

Điểm tô và làm phong phú thêm nét đẹp trong quần kiến trúc Tu viện An Lạc là những công trình kiến trúc nghệ thuật như: Vườn Di Lặc và Lục tặc, Hòn giả sơn... Cũng trong khuôn viên nội viện vẫn còn lưu giữ ngôi “tịnh thất” (cốc) ngày xưa. Đây là nơi để chư Tăng, Phật tử và du khách thập phương đến thưởng thức hương vị của “trà thiền” và giao lưu văn hóa cũng như kiến thức Phật học.

Lúc bầu trời trong xanh hay trăng tròn soi bóng, mái chùa cong vươn lên nhẹ nhàng như “Ngư Long vờn nguyệt”. Những mái ngói cong vút in trên nền trời khi nắng chiều chợt tắt trông giống như một bức tranh thủy mặc sống động. Sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc và cảnh sắc thiên nhiên của ngôi chùa làm cho tâm hồn du khách trở nên trầm tĩnh, tạo cảm giác thư thái, gợi mở tâm linh cho những ai khi đến viếng cảnh chùa.
Dulichgo
Chính vì vậy, Tu viện An Lạc đã và đang trở thành điểm tham quan hành hương nổi tiếng ở phố núi Bảo Lộc; nơi ấy chất chứa đầy đủ ý nghĩa của tuệ giác. Chính tuệ giác là nguồn khai sáng và đạo diễn cho cuộc đời hướng về giá trị của an vui và hạnh phúc…

Theo Xuân Hân, Giang Phong (Du Lịch Tâm Linh)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Chùa Châu Long (Hà Nội)

Chùa Châu Long tên gọi là Châu Long Tự, ở thế kỷ XIX chùa thuộc thôn Châu Long tổng An Thành – Huyện Vĩnh Thận – Phủ Hoài Đức. Nay Thuộc phố Châu Long, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình – Hà Nội. (Địa chỉ mới số 112 phố Trấn Vũ – Trúc bạch – Ba Đình - Hà Nội).

Chùa Châu long là cơ sở kiến trúc Phật Giáo tọa lạc trên vùng đất cổ, gắn bó mật thiết với lịch sử tồn tại và phát triển của Kinh thành Thăng long.

Theo sách “Tây Hồ Chí” chùa Châu Long gắn bó với vị công chúa thời Trần (con gái vua Trần Nhân Tôn ) tên là Khiết Cô tuổi nhỏ đã xuất gia tu ở đây , mấy năm sau nghe ý vua muốn gọi về gả chồng nhưng công chúa không chịu, bà đã  trốn đi ở châu An Sinh, Đông Triều xóm bên cạnh dòng suối tu ở chùa Linh Ẩn.

Sau khi mất có xây tháp Môn đồ ở Châu Long tự. Về sau chùa có dựng tượng thờ bà và được các vương triều sắc phong: Linh Thông Công Chúa. Tấm Bia còn lại của chùa khắc vào đời Thành Thái năm Tân sửu (1901) có đề “Long Châu sơn cổ danh thắng dã, sơn thượng hữu tự, nhân danh yên cựu vô bi ký, bất tri sáng tự hà đại “nghĩa là: Núi Châu Long xưa là một danh thắng, trên núi có ngôi chùa, nhân đó Chùa mang tên Châu Long.

Chùa Châu Long là cơ sở kiến trúc Phật giáo toạ lạc trên vùng đất cổ, gắn bó mật thiết với lịch sử tồn tại và phát triển của kinh thành Thăng Long. Vào thế kỷ thứ 19, chùa thuộc thôn Châu Long, tổng An Thành, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức.

Chùa nằm trên gò đất cao trông ra hồ Trúc Bạch. Chùa có hình chữ Đinh, phía trước là tiền đường, sau là hậu cung. Trong chùa có tám cửa võng được chạm trổ tinh vi hình long, ly, quy, phượng, hoa, lá, vân mây... cũng như nhiều hoành phi, câu đối và tượng Phật.
Dulichgo
Chùa hiện có 5 gian tiền đường, 3 gian chuôi vồ, 8 bộ cửa võng chạm trổ thếp vàng, bộ tượng thờ gồm 23 pho tượng, bộ khám thờ, hoành phi, câu đối, chuông đồng đều có giá trị mỹ thuật cao. Đặc biệt hai tượng Văn Thù cưỡi sư tử xanh, tượng Phổ Hiền cưỡi voi trắng đều là những tượng đồng hiếm thấy.

Tượng Văn Thù thể hiện theo hình thức ngồi co chân trái, chân phải thả xuống để trần, tay phải cầm chuỗi tràng hạt đặt úp lên đầu gối, tay trái giơ lên theo lối tả thực sống động. Ngực tượng đeo dây Anh Lạc, ức nịt hình lá sen, chiếc áo cà sa được khoác trên bờ vai để tà áo chảy dài xuống chân. Có thể nói đây là hai khối tượng kim loại đẹp hiếm thấy trong nghệ thuật đúc tượng cổ Việt Nam thế kỉ XIX.

Khác hẳn các chùa khác thường làm tượng Thích Ca Cửu Long , quần cọc, giơ tay thẳng lên đầu, pho tượng Thích Ca Cửu Long tại chùa Châu Long giơ tay trái ngang ngực, áo mặc kín mình, được làm bằng chất liệu gỗ, chạm trổ tinh vi các hình rồng, tạo ra nét độc đáo riêng của hệ thống tượng trong Phật điện.

Ngoài ra chùa còn có tượng Thế Tôn cao hơn 3m, cốt phủ đất nện, tượng Di Lặc bằng đồng, 10 pho tượng Diêm Vương mang nét tạo tác đẹp. Ngoài ra, chùa còn có 1 quả chuông đồng được chuyển từ chùa Vĩnh Phúc tới. Ngoài toà tam bảo thờ Phật, chùa còn có điện thờ Mẫu gồm 3 pho tượng Tam Phủ, 3 tượng Quan Hoàng, tượng Bà Chúa Thượng Ngàn, 1 tượng Sư Tổ Bồ Đề Đạt Ma và 1 tượng Phật bà Quan Âm. Ngoài ra, còn có nhà Tổ, nhà bếp, nhà tăng...
Dulichgo
Ca tụng vẻ đẹp của ngôi chùa, tấm bia Cải tu Châu Long tự bia ký (bài khắc trên bia về việc cải tạo, trùng tu chùa Châu Long) đã ghi rằng:

"Ngôi chùa này tuy không có lầu cao, gác ngọc vàng son lộng lẫy nhưng lại có Trúc Bạch, hồ Tây bao bọc trước sau. Sông Tô Lịch in chiếu hai bên, chim bay cá lặn vùng vẫy thảnh thơi, bãi dài gò thấp nhìn sao bát ngát, ánh trời, bóng mây bảng lảng trước mặt. Một khoảng trời đất thấp thoáng trăm vẻ kì lạ, tốt tươi, bóng cổ thụ trùm xuống xanh rờn mênh mông ánh nước hồ chiếu lên bàng bạc... Đấy chính là chốn danh lam đệ nhất của đất Long Biên này vậy".

Chùa đã được trùng tu sửa chữa nhiều lần. Ở thời Nguyễn, chùa đã trùng tu lớn vào năm Mậu Thìn (1808) đời vua Gia Long; Năm Tân Sửu đời vua Thành Thái (1901) và năm Nhâm Thân đời vua Bảo Đại  (1932).

Chùa có nhiều di vật kiến trúc điêu khắc đẹp như các trụ biểu , hệ thống cửa võng chạm thủng hình tứ linh  “Long, Ly, Quy, Phượng “hoa điểu, văn mây hình học …riêng pho tượng Thích ca sơ sinh là một sáng tạo khá độc đáo. Tượng Đức Thế Tôn cũng là pho tượng cao hiếm thấy trong hệ thống tượng cùng loại ở các chùa nước ta . Chùa Châu Long như là một bảo tàng mỹ thuật cổ ở kinh thành Thăng Long phản ánh tài hoa của người nghệ nhân trong lịch sử.
Dulichgo
Chùa Châu Long xưa kia trang nghiêm, u tịch và huyền ảo. Các thi sĩ đến đây vãn cảnh từng nổi hứng làm nên những câu thơ hay:

Sương lam phủ đất chim chờ gió
Sóng bạc tung trời, cá đớp mây

hoặc:

Mây lẩn nước xanh màu đúc ngọc
Nguyệt lồng hoa thắm vẻ in châu

Chùa đã được Nhà nước xếp hạng Di tích Nghệ thuật Kiến trúc ngày 05/02/1994. Hiện nay Thượng tọa Thích Thanh Phúc - Ủy viên hội đồng trị sự TW GHPGVN – phó ban Trị sự THPG Hà Nội đương kim Trụ trì .

Theo Phaha.vn
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015

Dạo chơi chốn thần tiên thác Tam Hợp

(PNO) - Thác Tam Hợp nằm phía sau khuôn viên chùa Di Đà, cách trung tâm thành phố Bảo Lộc 35km. Thời điểm đẹp nhất ngắm thác là mùa mưa, khoảng cuối tháng 7.

< Thác Tam Hợp cuồn cuộn chảy trong mùa mưa...

Đến thác Tam Hợp vào mùa mưa tháng 7 của cao nguyên, có cảm giác như bước vào cõi thiên thai. Giữa không gian bao la, chỉ nghe tiếng thác đổ, tiếng lá cây xào xạc trong gió, màn sương bảng lảng che khuất tầm nhìn.

< Đường đi xuống thác Tam Hợp phủ đầy sương sớm.
Dulichgo
Thác Tam Hợp nằm phía sau khuôn viên chùa Di Đà, hay còn gọi chùa Đang Đừng, thuộc buôn Đang Đừng, xã Đạ Tồn (Bảo Lộc, Lâm Đồng).

Chùa Di Đà cách trung tâm thành phố Bảo Lộc 35km, đi theo hướng thác Đambri, rẽ phải vào Hoa viên Địa Tạng Vương, chùa cách đó khoảng 5km đường đất đỏ.

< Thảm cỏ xanh men theo dòng suối từ con thác.

Thác Tam Hợp chảy từ nguồn nước của Rừng Thần quanh khuôn viên chùa Di Đà. Thác mang tên Tam Hợp là vì có 3 dòng nước lớn đổ xuống từ độ cao 70m.

Dạo chơi thác vào mùa mưa và lúc sáng sớm sương chưa tan mới cảm giác hết được sự huyền diệu của thiên nhiên.

Sau cơn mưa suốt đêm, đường đi xuống thác buổi sáng vô cùng hiểm trở, chỉ một đoạn ngắn bậc thang lát đá. Sau đó, băng qua khu rừng nguyên sinh rậm rạp bóng cây cổ thụ, rễ cây chằng chịt dọc lối đi.

Có đoạn đường mòn đất đỏ trơn trượt, dốc thoai thoải, phải bám vào nhánh cây mà trườn người xuống. Có đoạn thảm cỏ xanh mướt, men theo một dòng suối. Tưởng chừng chỉ cần bất cẩn trượt chân là có thể ngã xuống suối.

< Mùa mưa, nước cuồn cuộn chảy xiết.
Dulichgo
Cách xa hàng trăm mét đã nghe thấy tiếng thác đổ ầm ầm, càng đến gần tiếng thác càng vọng lớn, bao trùm cả không gian núi rừng.

Khung cảnh thật hùng vĩ, dòng nước lớn từ trên thượng nguồn đổ về tuôn chảy không ngừng, va vào những tảng đá chắn ngang đường, tung bọt trắng xoá.

< Cảm giác thót tim khi đi qua hai chiếc cầu gỗ mỏng manh.

Cảm giác thót tim khi đi qua hai chiếc cầu gỗ mỏng manh, bên dưới là dòng nước cuồn cuộn chảy xiết, tia nước bắn lên chạm vào da thịt mát rượt.

Tiếng lá cây xào xạc trong gió, tiếng thác rì rầm, sương sớm bảng lảng tạo thành lớp màn trắng huyền ảo.

Xin phép sư thầy trụ trì nghỉ qua đêm tại chùa, bạn sẽ có thêm thời gian tận hưởng không khí yên tĩnh nơi đây. Chùa Di Đà có quần thể kiến trúc độc đáo, kết hợp hài hòa phong cách kiến trúc Phật Giáo, Châu Mạ và kiến trúc Việt. Trong khuôn viên chùa là những nếp nhà sàn bằng gỗ của người dân tộc, nóc mái chạm khắc phù điêu hoa văn, bên trong là những tượng Phật trang nghiêm.
Dulichgo
Xung quanh khuôn viên chùa là những nương chè thẳng tấp, ẩn hiện trong màn sương. Một nơi chốn bình yên, thanh tĩnh.

Theo An Nguyên (Báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Di tích Chùa Phật Lâm

Chùa Phật Lâm còn có tên gọi khác là Chùa Núi Man, thuộc thôn Trại Xoan, xã Nhữ Hán, huyện Yên Sơn được xây dựng và khoảng thế kỷ thứ X- XIV thời nhà Lý - Trần. Tồn tại qua các thời Lê, Mạc đến đời Nguyễn thì bị hư hỏng do tác động của thời gian. Năm 2006 và 2007, Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang đã phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành các đợt thám sát khảo cổ.

Tại đây đã phát lộ dấu tích ngôi chùa cổ với nhiều hạng mục kiến trúc tiêu biểu. Để bảo tồn một di tích cổ, trong thời gian qua, ngôi chùa này đã được phục dựng trên nền ngôi chùa cũ, từ đó tạo ra một điểm nhấn quan trọng trong việc thu hút khách trong và ngoài nước đến hành hương lễ Phật và thăm quan không gian kiến trúc và giá trị lịch sử tiêu biểu của ngôi chùa cổ này.

Việc phát lộ dấu tích một ngôi chùa cổ trên vùng đất Nhữ Hán với nhiều hạng mục kiến trúc tiêu biểu, như: Nền chùa, tháp mộ cùng hàng trăm hiện vật có trang trí kiến trúc tinh xảo mang đậm phong cách văn hoá Phật giáo Đại Việt đã khẳng định những giá trị lịch sử đa từng tồn tại, phát triển quan hàng trăm năm tại đây. Từ những giá trị qua kết quả nghiên cứu của những người làm công tác khảo cổ, năm 2010 chùa Phật Lâm đã chính thức được khôi phục lại trên tổng diện tích quy hoạch là 5.000 m2.

Hiện nay quần thể công trình kiến trúc này mới hoàn thiện Chùa và hệ thống các tượng pháp trong chính điện trên diện tích 600m2. Theo quy hoạch, quần thể công trình kiến trúc này sẽ tiếp tục được hoàn thiện, bao gồm: Nhà Tổ, nhà Tăng, nhà thờ Mẫu, nhà tiếp lễ, nhà trưng bày các cổ vật của ngôi chùa quan các đợt tiến hành khảo cổ học. Nếu không gia kiến trúc của ngôi chùa này được hoàn thiện, sẽ tạo ra một điểm nhấn quan trọng của du lịch tâm linh trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.

Dấu tích chùa Phật Lâm là một trong 3 ngôi chùa cổ tiêu biểu, có niên đại từ thời Lý- Trần được biết đến của tỉnh Tuyên Quang, bởi có cấu trúc rõ ràng, nằm trong tuyến phát triển của hệ thống Phật giáo Việt Nam ở vùng Đông Bắc. Ngôi chùa được đầu tư phục dựng không chỉ nhằm bảo tồn, gìn giữ giá trị văn hoá trong diễn tiến của lịch sử mà qua đó còn góp phần quảng bá, giới thiệu và đẩy mạnh hoạt động du lịch tâm linh trên địa bàn.
Dulichgo
Theo Đại đức Thích Thanh Trung và những người có trách nhiệm tại đây cho biết, thì lượng khách thăm quan chùa Phật Lâm mỗi năm đều tăng lên đáng kể. Đặc biệt vào những dịp chính lễ, có ngày tới cả hàng nghìn du khách trong và ngoài tỉnh hành hương về đây vãn cảnh chùa và thành tâm lễ Phật.

Trong điều kiện còn chưa hoàn thiện các hạng mục trong tổng thể của ngôi chùa đã được quy hoạch, song nhà chùa đã sắp xếp, tạo điều kiện tốt nhất để du khách thập phương có dịp thăm quan và tìm hiểu những giá trị tiêu biểu của công trình cổ độc đáo này.

Với không gian văn hoá tín ngưỡng, không gian kiến trúc và cả chiều dài của lịch sử, ngôi chùa Phúc Lâm đã và đang thu hút ngày càng nhiều du khách thập phương tìm về mảnh đất Nhữ Hán. Được biết, di tích chùa Phúc Lâm đã được đưa vào hạng mục kiểm kê di sản của tỉnh; đồng thời ngành Văn hoá cũng đã tiến hành lập hồ sơ khoa học đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích cấp Quốc gia.

Theo Bá Hương - Hữu Đông (TTV)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2015

Về Sóc Trăng vãn cảnh chùa Dơi

Chùa Dơi (tỉnh Sóc Trăng) nổi tiếng là một quần thể kiến trúc đẹp và độc đáo bậc nhất Đồng bằng sông Cửu Long. Đến đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một ngôi chùa cổ kính hơn 400 năm tuổi, và đặc biệt là được nhìn ngắm đàn dơi hàng trăm nghìn con đang cư ngụ trong khuôn viên chùa.


< Chùa Dơi lọt thỏm trong không gian xanh của cả một cánh rừng cây sao và dầu cổ thụ.

Chùa Dơi còn gọi là chùa Mã Tộc hay chùa Mahatup là di tích nghệ thuật cấp quốc gia với hàng ngàn bảo vật quý gồm tượng Phật và bộ tứ linh Long Ly Quy Phượng đều được nặn bằng đất sét. Chùa gồm 3 công trình kiến trúc chính là chánh điện, Sala và nhà thờ cố lục cả Thạch Chia, người có công trong việc trùng tu lại ngôi chùa.

< Là một trong những ngôi chùa của đồng bào Khmer, chùa Dơi còn gọi là chùa Mã Tộc tọa lạc ở đường Mai Thanh Thế (Khóm 9, phường 3, Tp. Sóc Trăng).

Được khởi công xây dựng từ năm 1569, đến nay chùa Dơi đã được trùng tu nhiều lần. Trong đó, công trình kiến trúc tiêu biểu của chùa là ngôi chánh điện đến năm 1960 được trùng tu thay đổi toàn bộ chất liệu: bêtông đã thay thế gỗ, mái ngói thay lá dừa nước.

< Nụ cười huyền bí của các bức tượng tiên nữ Kemnar chắp tay trước ngực trang trí dọc hành lang Chùa Dơi. Đầu mái phía đầu hồi được chạm trổ tinh xảo hình rắn Na-ga uốn lượn.

< Nhà Sala, nơi sinh hoạt cộng đồng, hội họp, làm lễ, tiếp khách và cũng chính là nơi nghỉ ngơi của các sư và khách hành hương ở lại.
Dulichgo
Cổng chùa Dơi có kiến trúc trang trí các hoạ tiết hoa văn hình cánh sen và hoa cà ri cách điệu. Bước vào khuôn viên chùa Dơi, không gian được mở ra là cả một cánh rừng với đủ loại cây, song nhiều nhất vẫn là cây sao và cây dầu...

< Khuôn viên chùa cổ kính và thanh tịnh với hàng cây sao cổ thụ to cao, chiếm hết không gian từ ngoài cổng cho đến phía sau của chùa, nơi có những ngôi tháp mộ mang kiến trúc đặc trưng bà con dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng.

... Đây chính là nơi cư trú của hàng trăm nghìn con dơi, trong đó có những con lớn đến mức sải cánh dài cả mét, sống thành bầy như đan dày đặc trên những nhánh cây.

< Không gian bình dị bên trong chùa Dơi.

Ban ngày, dơi rủ nhau đi kiếm ăn, để lại một không gian vắng lặng nơi sân chùa. Chiều đến, sự vắng lặng ấy nhường lại cho sự xao xác, ồn ã của những cánh dơi, bay đen kịt trong cảnh hoàng hôn buông xuống.

< Với lối kiến trúc độc đáo, các hàng cột trong ngôi Chánh điện trang trí nhiều hình ảnh minh họa các tích Phật đã tạo ấn tượng mạnh cho du khách khi thăm chùa. Các bức tường của nhà Sa La ở chùa Dơi được trang trí các mảng tranh sơn dầu hình tiên nữ đang múa trên bầu trời.

Sau những trải nghiệm với dơi, du khách sẽ được khám phá nét kiến trúc của ngôi chùa Dơi cổ kính thể hiện ở điêu khắc Ăngkor với nhiều phù điêu và hoa văn trên làng loạt cột đài nơi chánh điện.

< Dàn nhạc cụ truyền thống phục vụ lễ hội của bà con dân tộc Khmer trong chùa Dơi.
Dulichgo 
Đầu tiên là nụ cười huyền bí của những bức tượng tiên nữ Kemnar chắp tay trước ngực, dọc hành lang. Phía trên, mái chánh điện có kết cấu đặc biệt với 4 hệ thống mái chồng lên nhau.

< Phù điêu trang trí ở chùa Dơi.

Riêng mỗi mái đều được trang trí tượng hình rồng ở các góc, đầu có sừng uốn lượn, mảnh mai, thân rồng theo mô típ của loài cá Poon-co, nên không có chân, trên còn đeo những đao mác nhọn.

Một phần mái tiếp giáp với cột trang trí hình tượng chim Cay-no, ưỡn ngực đỡ lấy mái chùa, cong vút, vẽ lên nền trời xanh một đường cong kỳ ảo, như thỉnh gọi đức Phật ban phước cho con người và vạn vật.

< Ngay từ cổng vào, du khách đã choáng ngợp bởi màu vàng rực, óng bao phủ gần như toàn bộ ngôi chùa. 
Dulichgo 
Bên trong chánh điện, tượng Phật Thích Ca bằng đá nguyên khối cao 1,5m được đặt trang trọng trên một tòa sen cao. Chánh điện càng trở nên tôn nghiêm, uy nghi thanh thoát khi trần được trang trí những mảng tranh sơn dầu hình tiên nữ múa hát trên bầu trời, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa giá trị nghệ thuật kiến trúc với hội họa mang đậm bản sắc văn hóa Khmer. Đặc biệt, du khách còn có cơ hội tìm hiểu giá trị nghệ thuật của bộ Kinh Phật viết trên lá cây thốt nốt ngay trong không gian chính điện chùa Dơi.

< Bên trong chánh điện là pho tượng Phật sơn son thiếp vàng.

Là quần thể kiến trúc đẹp, có giá trị thẩm mỹ cao, ngoài việc thoả mãn nhu cầu sinh hoạt của đời sống tâm linh, chùa Dơi còn có chức năng hướng người dân tham gia sinh hoạt tôn giáo đến chân - thiện - mỹ, làm điều hay lẽ phải, làm việc thiện, tích phúc cho đời.

Chùa Dơi là một minh chứng về Phật giáo Nam tông trong xã hội Khmer hiện nay không phải là tôn giáo thoát tục, lánh xa cuộc đời mà hoà nhập vào cuộc sống đời thường với phương châm “tốt đạo, đẹp đời”.

< Hàng ngày có hàng vạn con dơi về chùa trú ngụ mà chủ yếu là loài dơi quạ, dơi ngựa, mỗi con trưởng thành sải cánh dài khoảng 1m và nặng khoảng 1,5 kg.

Dulichgo: Chánh điện chùa Dơi từng bị cháy rụi vào ngày 15.8.2007, nguyên nhân cháy được cho là do một trong 60 cây đèn cầy (nến) ngã đổ, cháy lan ra bắt vào các màn vải trang trí sau khu tượng Phật. Hai năm sau đó, chánh điện chùa Dơi được phục dựng hoàn toàn với các tiết tấu hoa văn, lợp ngói sơn vàng, trang trí lại các tượng Phật… đúng như hiện trạng ban đầu.

Ngoài việc phục tráng khu chánh điện, những công trình phụ trong khuôn viên chùa như bờ kè ao cá, hồ sen, hệ thống thoát nước… cũng được nâng cấp để tạo cảnh quan thoáng mát, sạch đẹp.

Chùa có tên khai sinh theo ngôn ngữ Khmer là Sêrâytecbô Mahatúp, có nghĩa là do phúc đức tạo nên, người dân địa phương quen gọi là chùa Mã Tộc, hay chùa Dơi (do trong khuôn viên có rất nhiều dơi cư trú).

Theo Nguyễn Vũ Thành Đạt, Trọng Chính, Lê Minh (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

Làng cổ Hùng Lô

(LVO) - Hùng Lô - nơi đã bảo tồn và phát huy được những nét đẹp văn hóa truyền thống, đó là ngôi đình, ngôi nhà cổ cùng điệu hát Xoan mượt mà, không chỉ mang giá trị văn hóa, lịch sử, kiến trúc mà còn là không gian sinh hoạt cộng đồng cho nhân dân, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, tri ân công đức tổ tiên.

< Biểu diễn hát Xoan tại đình Hùng Lô.

Xã Hùng Lô, TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xưa có tên là Trang Khả Lãm, nằm trong địa hạt kinh đô Văn Lang xưa. Qua nhiều thời kỳ, làng có tên: Làng Xốm, làng An Lãm, làng An Lão rồi sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đổi tên thành xã Hùng Lô.

Từ ngôi đình cổ…

< Đình Hùng Lô là quần thể di tích có giá trị văn hóa, lịch sử nổi bật trên vùng Đất Tổ.

Theo sử sách và các vị cao niên trong làng kể lại thì Khu di tích lịch sử văn hoá đình Xốm hay còn gọi là đình Hùng Lô, xã Hùng Lô được xây dựng hoàn chỉnh vào thời Lê Trung Hưng, niên hiệu Chính Hòa (1647). Ngôi đình tọa lạc trên dải đất rộng 500m2 với quy mô kiến trúc khá hoàn chỉnh, gồm: 5 gian nhà tiền tế, phương đình, lầu chuông, lầu trống và toà đại đình.

Tòa đại đình là một công trình kiến trúc trọng yếu với đường nét kiến trúc cổ thời Lê gần như còn lưu giữ được nguyên vẹn với 4 mái rộng cao, 4 góc đao cong vút như 4 cánh hoa xoè nở, hàng gạch hộp rỗng hoa chanh chạy theo bờ mái và những con kìm, con số gắn trên đầu nóc.

< Kiệu văn được lưu giữ từ năm 1697 và sẽ được dùng trong lễ rước kiệu về Đền Hùng năm nay.
Dulichgo
Những khúc quanh trên nóc mái được gắn những tác phẩm đồ gốm quý. Trên nóc đình đắp Lưỡng long chầu nguyệt. Toàn bộ nội thất của toà đại đình đều được sơn son thếp vàng lộng lẫy.

Ông Nguyễn Thanh Mại - một lão niên của Khu 2, xã Hùng Lô bồi hồi nói: “Ngôi đình Hùng Lô đã có từ lâu đời, với người dân Hùng Lô, ngôi đình vừa là nơi văn hóa tín ngưỡng lại vừa là nơi thờ cúng các vị tiền nhân có công với dân, với nước. Vì thế những ngày hội làng hay những ngày rằm, mồng 1 người dân đều dâng hương hoa, lễ vật để biểu lộ lòng biết ơn, cũng là cầu mong những điều may mắn”.

Hiện nay, Đình còn lưu giữ được nhiều cổ vật quý như đỉnh, đèn, lư hương, hạc đồng và một số bình sứ cổ, cùng những hương án, sập thờ, đồ chấp kích và nổi bật là 4 cỗ kiệu văn, 1 bộ kiệu bát cống được đánh giá rất cao về nghệ thuật điêu khắc cổ thời hậu Lê thế kỷ thứ XVII. Các kiệu văn, kiệu cống trên được sử dụng vào những ngày lễ hội rước hương đăng, đẳng vật của địa phương dâng lên Đền Hùng vào ngày giỗ Tổ và cả trong lễ hội làng Hùng Lô.

< Kiệu bát cống được lưu giữ từ thời vua Lê Trung Hưng, niên hiệu Chính Hòa, năm Đinh Sửu - 1697.

Dù quy mô của Đình rất khiêm nhường nhưng người Hùng Lô vẫn có thể tự hào vì tới nay ngôi đình không chỉ là báu vật riêng của làng mà nó đã đi vào lịch sử và trở thành di sản văn hóa của toàn dân tộc. Ông Nguyễn Thanh Tuấn, Bí thư Đảng ủy - Chủ tịch HĐND xã Hùng Lô cho biết: “Các hoạt động gìn giữ, bảo tồn di tích lịch sử quốc gia đình Hùng Lô được người dân luôn quan tâm, ủng hộ, đóng góp tiền của, vật chất cũng như tinh thần để cùng các cấp, các ngành cũng như cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện”

… đến ngôi nhà hơn 100 năm tuổi
Dulichgo
Rời Đình Hùng Lô, chúng tôi đến nhà ông Nguyễn Hoàng Phúc (Khu 4, xã Hùng Lô). Ngôi nhà cổ của gia đình ông được để lại đã qua 3 thế hệ, với tuổi thọ hơn 100 năm. Qua thời gian, một số chi tiết trong ngôi nhà đã xuống cấp, gia đình ông thường xuyên tiến hành duy tu, bảo dưỡng đảm bảo giữ nguyên kiến trúc ngôi nhà cổ.

< Hội làng Hùng Lô.

Ông Nguyễn Hoàng Phúc chia sẻ: “Là thế hệ cháu chắt, được thừa kế lại ngôi nhà cổ của các ông các cụ để lại, đối với tài sản vô cùng quý giá này thì không chỉ đời tôi mà ngay cả đời con, đời cháu cũng chỉ tôn tạo lại chứ không làm mất các kết cấu của ngôi nhà cổ của ông cha để lại cho”. Chính vì những tâm tư đó mà dù 3 thế hệ cùng sinh sống trong một ngôi nhà nhưng gia đình ông Phúc chỉ xây cất thêm một căn nhà bên phần đất bên cạnh, chứ ngôi nhà tổ tiên để lại thì hoàn toàn được giữ nguyên như là kỷ vật.
Dulichgo
Hiện nay, xã Hùng Lô còn lưu giữ được gần 50 ngôi nhà cổ từ 100 đến 200 năm tuổi. Những ngôi nhà cổ này đều được trạm khắc những biểu tượng Lân, Ly, Quy, Phượng; Tùng, Trúc, Cúc, Mai. Điều này càng được thể hiện rõ nét trong tổng thể kiến trúc của những ngôi nhà cổ.

Nguyên liệu làm nên những ngôi nhà cổ này hầu hết là gỗ, tre, nứa... những thứ có sẵn trong tự nhiên và gần gũi với cuộc sống của người dân Việt. Vì vậy, nên mỗi ngôi nhà cổ ở Hùng Lô đang được bảo tồn không chỉ về mặt kiến trúc mà còn như một phần tinh thần cho mỗi thành viên trong gia đình được gìn giữ trong ngôi nhà đó.

Những giá trị cổ ở Hùng Lô cùng nhiều di tích khác trên địa bàn TP. Việt Trì hiện đang trong tiến trình bảo tồn và phục dựng các giá trị lịch sử, văn hóa để quảng bá với người dân cũng như du khách thập phương nhằm làm rõ nét hơn nữa những đặc trưng của Việt Trì - Thành phố lễ hội về với cội nguồn dân tộc Việt Nam.

Theo Hà Hoài (Làng Việt)
Du lịch, GO!