Hiển thị các bài đăng có nhãn Lễ hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lễ hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2015

Những lễ hội không thể bỏ qua khi đến Đà Nẵng

(ĐSPL) - Du khách có dịp đến Đà Nẵng không thể bỏ qua những lễ hội đã có truyền thống lâu đời. Đặc biệt trong năm nay, lần đầu tiên Đà Nẵng tổ chức lễ hội Ánh sáng với quy mô hoành tráng, du khách sẽ được dịp chiêm ngưỡng toàn thành phố Đà Nẵng sáng rực ánh đèn từ 20 - 23h trong 2 ngày 4 - 6/9.

1. Lễ hội ánh sáng

Lễ hội Ánh sáng sẽ được tổ chức lần đầu tiên trong năm nay. Theo dự kiến, lễ hội Ánh sáng quốc tế Đà Nẵng (DILF) 2015 sẽ diễn ra tại vỉa hè bờ đông đường Bạch Đằng kéo dài từ cầu Rồng đến chợ Hàn, từ ngày 4-6/9 nhân kỷ niệm 70 năm Quốc khánh.

Tại đây sẽ có khu vực ánh sáng, trình diễn nghệ thuật ánh sáng, trang trí đèn LED, trình diễn âm nhạc và ánh sáng, nghệ thuật ánh sáng tương tác, trình diễn ánh sáng đường phố, nhạc điện tử…
Điểm nhấn của lễ hội này là trình chiếu ánh sáng lên quả cầu khổng lồ, bóng đèn lớn mang hình dáng thiếu nữ Việt Nam, đèn LED hình pháo hoa, cổng vòm… cùng hiệu ứng ánh sáng dọc chiều dài không gian lễ hội.
Dulichgo
Bên cạnh đó còn có nhiều sự kiện văn hóa, thể thao diễn ra trong suốt thời gian này như bắn pháo hoa trên sông Hàn, biểu diễn nghệ thuật đường phố, hóa trang, gala dinner… sẽ góp phần tạo dựng những sản phẩm du lịch đặc sắc cho Đà Nẵng. Dự kiến kinh phí để tổ chức sự kiện khoảng 60 tỷ đồng.
Lễ hội ánh sáng sẽ thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước.

2. Lễ hội pháo hoa Đà Nẵng

Lễ hội Pháo hoa Đà Nẵng được tổ chức tại Đà Nẵng lần đầu tiên vào năm 2008. Lễ hội được tổ chức mỗi năm một lần và thu hút lượng lớn du khách đến Du Lịch Đà Nẵng.  Lễ hội diễn ra 2 ngày liên tiếp vào dịp tháng 3, kỷ niệm thành phố Đà Nẵng giải phóng, hoặc vào 30 tháng 4 và 1 tháng 5.

Lễ hội quy tụ các đội pháo hoa lớn trên thế giới tham gia. Xoay quanh lễ hội pháo hoa là các hoạt động khác kèm theo: Lễ hội ẩm thực, Đêm nhạc lớn, triễn lãm tranh…
Mỗi năm là một chủ đề biểu diễn riêng rất đặc sắc và ý nghĩa: Vào dịp này, cả thành phố Đà Nẵng rực rỡ sắc màu của pháo hoa, nô nức với các hoạt động văn hóa…

3. Lễ hội Quán Thế Âm

Lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức hàng năm tại khu du lịch Ngũ Hành Sơn, thành phố Du Lịch Đà Nẵng. Lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1960, nhân ngày khánh thành tượng Bồ Tát Quán Thế Âm ở động Hoa Nghiêm thuộc ngọn Thuỷ Sơn, phía Tây Ngũ Hành Sơn.

Hai năm sau, lễ hội được tổ chức nhân dịp khánh thành chùa Quan Âm ở động Quan Âm, là nơi phát hiện một khối thạch nhũ có hình tượng Phật bà Quán Thế Âm.

Sau đó, vì nhiều lý do, lễ hội không được tổ chức trong một thời gian khá dài. Mãi đến ngày vía đức Phật bà Quan Thế Âm vào năm 1991 (19/2 năm Tân Mùi), Lễ hội Quán Thế Âm mới được khôi phục trở lại.

Lễ hội Quán Thế Âm là một lời cầu nguyện cho quốc thái dân an, cho mưa hòa gió thuận; là dịp để mọi người, mọi giới chan hòa trong không khí hội hè, soi mình vào bản sắc văn hóa dân tộc để ngày một sống đẹp hơn. Hàng năm, cứ đến ngày 19/2 Âm lịch, lễ hội lại được tổ chức với một tầm vóc, quy mô ngày càng lớn và nội dung ngày càng phong phú hơn. Lễ hội Quán Thế Âm diễn ra trong 3 ngày.

4. Lễ Hội Làng Túy Loan

Lễ hội Túy Loan nhằm ghi nhớ công lao khai thiên lập địa của tổ tiên, răn dạy con cháu về truyền thống của làng. Đến hẹn lại lên, trong hai ngày mồng 9 và mồng 10 Tết (tức ngày 8 và ngày 9/2), lễ hội đình làng Túy Loan, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng khai mạc, thu hút đông đảo dân làng và du khách thập phương tham gia.

Làng cổ Tuý Loan đã có trên 500 năm tuổi,  đình làng cũng đã có trên 100 năm. Trải qua bao thăng trầm thời gian, đình Tuý Loan tuy không còn giữ được nguyên trạng nhưng vẫn còn vẻ uy nghi vốn có. Và hàng năm, vào ngày mồng 9 Tết, dân hai thôn Đông, Tây của làng cùng khách thập phương lại tập trung tại đây để mở hội. Lễ hội làng Tuý Loan thường diễn ra trong hai ngày. Nếu du khách đi Du Lịch Đà Nẵng vào dịp lễ hội thì sẽ có cơ hội được tham gia vào hoạt động của buổi lễ.
Dulichgo
Tham dự lễ hội đình làng Tuý Loan chính là một dịp để du khách gần xa hiểu thêm về một vùng đất, một phong tục và những con người chân chất đang gìn giữ truyền thống đáng quý của cha ông ngay trên mảnh đất quê hương mình.

5. Lễ hội làng Hòa Mỹ

Lễ hội đình làng diễn ra hàng năm vào ngày 12/01 âm lịch nhằm nhắc nhở tinh thần “uống nước nhớ nguồn” trong con cháu các tộc họ, kiểm điểm những việc đã làm được trong một năm và định hướng những việc sẽ thực hiện trong năm đến. Do hoàn cảnh chiến tranh, việc tổ chức lễ hội bị gián đoạn một tới gian dài, mãi đến năm 1994 mới được khôi phục trở lại.

Khách du lịch có dịp ghé qua Đà Nẵng, vào những ngày này chắc chắn không nên bỏ qua lễ hội làng Hòa Mỹ. Đây là dịp để du khách tích lũy thêm vốn kiến thức về văn hóa, lịch sử, con người nơi đây.

6. Lễ hội làng An Hải

Lễ hội đình làng An Hải được tổ chức vào ngày thu tế hàng năm, 10/8 âm lịch, Làng An Hải ngày trước thuộc xã An Phúc, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, thành phố Du Lịch Đà Nẵng.

Lễ hội đình làng An Hải nhắc nhở mọi người luôn tự hào về một quá khứ hiển linh, dù trải qua bao năm tháng, tên đất - tên làng vẫn còn vang vọng những hồi quang oanh liệt không chỉ của một thành phố mà còn của cả một dân tộc. Năm 2000, lễ hội đình làng An Hải được khôi phục, nhắc nhở mọi ngườì quay về một thời hào hùng ấy.

7. Lễ Hội Rước Mục Đồng

Từ hạ tuần tháng ba âm lịch, khi vụ mùa đã hoàn tất là lúc các công việc sắp đặt cho lễ hội bắt đầu. Chiều 29/3 âm lịch làm lễ dạo đồng. Đây là lúc con cháu sinh sống ở các nơi xa kèo về đông đủ. Mục đồng cầm cờ dạo quanh các cánh đồng tỏ ý cầu cho được mùa. Sáng ngày 30, chính thức diễn ra lễ rước. Lễ bắt đầu vào sáng tinh mơ ngay giữa đình thần.
Dulichgo
Lễ rước Mục Đồng - lễ hội dành cho trẻ chăn trâu - ngày xưa được tổ chức ở làng Phong Lệ, Hòa Châu, Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

8. Lễ Hội Cầu Ngư

Ngày đầu thiết lễ tiên thường, ngày sau là lễ tế chính thức. Trong ngày lễ, bàn thờ được trang hoàng hết sức rực rỡ, trang nghiêm. Các nhà đều đặt bàn hương án bày đồ lễ cúng. Trên mỗi tàu thuyền đều chăng đèn kết hoa.

Làng chọn ra một ban nghi lễ gồm các cụ cao niên, hiền đức, có uy tín với bạn chài và không bị mắc tang chế. Vị chánh bái dâng đồ tế lễ (không được dùng hải sản) và đọc văn tế nói lên lòng biết ơn của dân làng đối với công đức Cá Ông và cầu mong mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè đi khơi về lộng an toàn.

Lễ hội Cầu ngư bày tỏ khát vọng được bình yên trong cuộc sống của ngư dân, những con người luôn phải đối mặt với nhiều bất trắc khi lênh đênh trên biển cả. Du khách sẽ có dịp được tận mắt chứng kiến nét đẹp văn hóa nơi đây qua lễ hội Cầu Ngư.

Theo Mỹ An (Đời Sống Pháp Luật)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Khói xuân về trú xứ Târ-coong

Đi qua miền sơn cước lớp lớp mây mù giăng trên những đầu núi, vượt đèo A Co, những cơn gió đông của A Lưới heo hút, lạnh băng xộc từ những hẻm núi sâu táp sa mặt mũi.

< Vượt đèo A Co.

Cái lạnh vùng sơn cước miền Tây rét buốt làm tê rần da thịt, lên hai bàn tay lỡ chạm nhẹ vào gió trời lao xao giữa đường vắng. Cái lạnh thơm hương của những đóa hoa rừng e ấp nở đâu đó trên rừng xa. Mỗi lần lên chốn này, bài hát “Nụ cười sơn cước” của Tô Hải ngân vang, gởi lòng hoa trắng không tàn với khúc nhạc xuân đồng điệu giữa cảnh sắc núi rừng.

Ngày những bông lúa cuối cùng đã được tuốt hết nơi nương xa, đem về phơi phóng bỏ vào kho, mùa lễ hội Aza - Tết mừng cơm mới, cũng bắt đầu rộn rã khắp các veel (làng) Pa Cô. Ngỡ như núi rừng A Lưới xích đến bên nhau, cùng nắm tay hòa điệu Pâr-lư truyền thống bên lửa ấm nồng, bỏ mặc cơn giá rét không ngớt rủa hờn mưa gió.
Dulichgo
Miền sơn cước A Lưới, thường vụ mùa kết thúc vào giữa tháng 10 Âm lịch khi tiết trời se sắt. Chúng tôi đến đón tết Aza tại làng Đụt, xã Hồng Trung, huyện A Lưới cùng đồng bào Pa Cô nơi đây.

Đường vào làng sũng nước, cỏ cây lướt thướt trong màn mưa dày dặc. Phía cuối làng, mây sà cả xuống ruộng nương, khiến lòng người như tiếc nuối cái màu xanh mới đây thôi còn phủ khuất những thớ đất nâu. Cứ nhìn mãi cảnh mưa gió ấy, tết cơm mới lẩn lụt đâu mất theo bước chân qua hàng dậu thưa. Vậy mà, càng sâu vào làng, lửa bếp ấm nồng thắp sáng những ngôi nhà nấp kín dưới bóng cây ướt. Khói xông từ nhà ra ngõ, từ ngõ ra đường, đường phủ sương. Chúng tôi háo hức hẳn lên, bước nhanh vào một nhà sát đường nơi có ông Quỳnh Hồ - Trưởng làng Đụt đương chờ.

Lễ Aza còn được gọi với các tên khác như: Tết cơm mới, Lễ tri ân cây lúa. AZa là một trong những truyền thống văn hóa đặc sắc của người Pa Cô, một cái tết của đồng bào khi kết thúc vụ mùa, là cái tết tiễn đưa năm cũ, đón chào năm mới, chuẩn bị cho mùa vụ mới. Lễ Aza một năm được tiến hành một lần, với đồng bào Pa Cô là để cầu mong nương rẫy xanh tươi, mùa màng bội thu, nhà cửa bình an, mọi người trong nhà khỏe mạnh, không ốm đau, năm mới phát đạt, no ấm, con cái học hành tiến bộ hơn. Tết cơm mới Aza cũng là tết đoàn tụ, người Pa Cô dù làm ăn, sinh sống ở đâu cũng cố gắng về quê, sum họp cùng gia đình, cùng veel như người Kinh về nhà ngày tết Nguyên Đán. Có lẽ vì thế, Aza mang màu sắc tết của gia đình, dòng họ và của veel.

Để có những lễ vật dùng để cúng tế trong lễ Aza, người làng phải chuẩn bị từ những ngày trước đó. Mọi công việc ở các gia đình đều được phân công chu đáo, người lên rừng, kẻ ra nương, người ở nhà lo liệu các việc. Họ đặc biệt chú ý nấu món bánh Aquâr bằng nếp thật thơm dẻo, một loại bánh ví như bánh chưng, bánh tét trong tết cổ truyền của người Kinh. Những con vật trong nhà nuôi lớn được như gà, vịt, heo, dê… tùy khả năng của mỗi nhà được làm thịt để cúng tế. Các thứ nông sản do gia đình thu hoạch được từ ruộng nương về. Ngoài ra, đồng bào còn phân công người lên rừng bẫy thú, ra khe suối bắt cá để làm món ăn cúng các Giàng.

Thường thì công việc chuẩn bị được tiến hành trước ngày Aza một vài ngày. Đến ngày đã ấn định lễ, đại diện hội đồng làng sẽ đánh lên những tiếng trống da dê để báo hiệu thời khắc Aza đã đến. Ngày nay, do điều kiện sinh hoạt, tiếng kẻng sắt đã thay thế cho tiếng trống ngày xưa. Sau tiếng báo hiệu, các nhà bắt đầu dâng lễ cúng mời thần linh về dự lễ Aza. Các thần linh được cúng trong lễ Aza bao gồm: Giàng Tro - giống như Thần Nông của người Kinh, đại diện cho cây trồng; Giàng Pơnanh - thần Chăn nuôi, đại diện cho gia súc; Giàng Panuôn - thần Buôn bán; Giàng Sưtarinh - Thần Đất, cùng các thần núi, thần sông, thần suối, cây cỏ, động vật… Rồi còn có lễ vật dành cho các thần làng, dòng họ, rồi ông bà cha mẹ… Như vậy, hầu hết các thần đều được cúng trong dịp Aza. Một lễ Aza đầy đủ thường qua các bước nghi lễ truyền thống như: lễ giao ước, lễ tẩy rửa lễ chuẩn bị vật chất, lễ cúng Aza, nghi lễ ăn tết Aza chung cả làng.

Mâm cúng tế ngày lễ Aza không nhà nào giống nhà nào, tùy thuộc vào hoàn cảnh vật chất và năng suất vụ mùa của mỗi gia đình. Đồng thời, sự khác nhau cũng bắt nguồn từ thần của dòng họ khác nhau của đồng bào. Những phẩm vật được mang cúng được chia làm 2 loại, thực vật và động vật. Thực vật bao gồm: lúa và nếp là lễ vật chủ đạo, được nấu thành cơm, hoặc làm bánh Aquâr; khoai, sắn, môn, mía, ngô… Các phẩm vật động vật là những con vật nuôi trong nhà như dê, lợn, gà, vịt hoặc thú rừng săn bắn được luộc hoặc nướng. Đặc biệt, hầu như nhà nào cũng cố gắng săn được một con chuột rừng để dâng lên các Giàng. Từ chuột rừng, người Pa Cô làm món Adut hay còn gọi là Alap là món trộn thịt chuột, nếp, sắn, đọt chuối và một vài gia vị khác. Đây là món đặc sắc của người Pa Cô trong ngày lễ Aza.

Đặc biệt, có một tín vật hết sức linh thiêng và không thể thiếu để thực hiện một nghi lễ trong quá trình tổ chức Aza là tâng-họt, được vót từ những cây tre nhỏ bằng cây đũa, tạo thành 3 tầng, y như những bông hoa bám lên thân tre. Chúng được cắm trên các lễ vật dâng cúng trong Aza. Sự đa dạng của lễ vật và món ăn được tăng thêm màu thiêng hóa bởi những bông hoa tre tâng-họt trắng trên màu tối của lễ vật, của không gian hành lễ.
Dulichgo
Không gian của lễ cúng Aza trở nên lung linh, ấm cúng hơn khi những tấm dzèng treo quanh. Những tấm dzèng là phức hợp hoa văn vô cùng phong phú và đa dạng, tái hiện lại những chi tiết gắn liền với đời sống của đồng bào Pa Cô. Chúng thể hiện sự khang ninh của một gia đình, qua cách thể hiện lối tạo hoa văn bằng cườm một cách công phu, đầy sáng tạo. Các tấm dzèng được treo bên trên mâm tế hay treo quanh không gian bày lễ, tùy theo cách của mỗi gia đình.

Người nhà xông khói được lấy từ thân cây thông rừng, phả ra mùi hương dịu nhẹ, quyện không khí linh thiêng khắp nhà. Trong làn khói mờ ảo ấy, người chủ, đại diện cho cả gia đình ngồi bên mâm cúng tế tự mình xưng cầu những điều tốt lành, xung quanh con cháu chăm chú lắng nghe. Thi thoảng những tiếng chiêng, trống da dê vang lên đệm nhịp. Họ khấn rất lâu, chủ yếu là những lời tán dương các thần đã phù hộ trong mùa cũ, năm cũ, cầu mong các thần gia ân trong mùa mới, năm mới.

Xong lễ cúng, người nhà cùng nhau ném hoa tre tâng-họt lên rui nhà hoặc các vị trí cao như tủ, góc mái trong nhà. Tâng-họt đậu trên các vị trí ấy càng nhiều thì may mắn, thành công trong năm mới sẽ đến nhiều hơn với gia đình. Đây là phần nghi lễ tại nhà vui nhất, từ trẻ đến già mọi người đều phấn khởi lấy tâng-họt của mình để ném.

Người bạn trong chuyến đi của chúng tôi còn kể rằng, ở lễ Aza của đồng bào Pa Cô cũng có nghi thức giống đồng tiền âm dương sấp ngửa của người Kinh mỗi lần cúng vái. Đó là ở gia đình ông Ku Đanh, lâu lâu có 2 mảnh tre, được gọi là avõ-tâng-lân lâu lâu được ném lên sau mỗi câu xướng tên các giàng.

Khi 2 mảnh avõ-tâng-lân rơi xuống, ông Ku Đanh nhìn chúng gật gù hay lắc đầu tùy vào cách rơi của chúng. Avõ-tâng-lân còn được các trưởng lão đem ra dùng tại Moòng chung hỏi những cơ sự của veel. Nghi thức này của người Pa Côcho thấy có mối tương đồng hoặc có sự ảnh hưởng từ dân tộc Kinh .
Dulichgo
Sau khi tổ chức cúng các Giàng trong nhà xong, nhà nào cũng lấy một phần lễ vật mang đến nhà chung của làng để góp lễ chung vui với mọi người trong làng. Theo truyền thống, mỗi nhà tự giác góp chung lễ vật vào mâm lễ cúng tế của làng, không có sự phân biệt giàu nghèo. Lễ Aza của làng mang ý nghĩa cúng Giàng chung của cả làng. Đó là những vị thần bảo hộ cho làng và những người thành lập làng. Trước đây, khi chưa có Moòng chung, tức nhà sinh hoạt cộng đồng hiện nay, phần lễ vật giành cho làng sẽ được mang đến nhà dài, nhà sàn của trưởng làng để chung vui. Từ khi có Moòng chung, Aza của làng được tổ chức ở đây.

Lễ vật mang ra Moòng chung thường là những lễ vật ngon nhất của gia đình. Bóng dáng các em, các mẹ tay xách, lưng gùi lễ vật đi trong cơn mưa ướt át, giá lạnh trông rất thương. Con đường vào Moòng chung nhoèn nhoẹt đất đỏ, bùn lấm cả chân nhưng ai cũng tươi vui đi dự lễ.

Sau khi các gia đình trong làng tề tựu đến nhà sinh hoạt cộng đồng đông đủ, trưởng làng báo hiệu, bà con bắt đầu khấn nguyện sự yên bình, hòa hợp và no ấm cho làng. Trưởng làng và một vài vị cao niên đại diện cho làng, cho các dòng họ trong làng đứng ra làm lễ. Chốc chốc, dứt một lần tế với những câu xướng danh các giàng, một hồi chiêng nổi lên. Dứt hồi chiêng, việc cầu khấn lại tiếp tục. Sau đó, cũng như ở nhà riêng, ai cũng cầm hoa tre tâng-họt ném lên trần nhà sinh hoạt cộng đồng và vui cười.

Vậy là lễ Aza đã xong. Trưởng làng đánh chiêng báo hiệu sự mừng vui của làng cho mùa mới, năm mới bắt đầu. Khi Trưởng làng đánh chiêng, tiếng trống da dê cũng được cất lên hòa điệu chung vui. Đó là nghi thức đầu tiên, sau khi dứt giai điệu chiêng trống ngân vang ấy, nam thanh nữ tú trong làng bắt đầu đi vòng quanh nơi cúng giàng của làng và múa điệu pơchiêngcoon, điệu múa đầu tiên trong lễ Aza.

Điệu múa tôn vinh thần mặt trời, vị thần mang lại sự ấm áp và xanh tươi của sự sống. Tiếp theo, các cô gái trong làng lại múa điệu tuốt lúa, tái hiện công việc nương rẫy của mùa đã qua và mong muốn một mùa mới bội thu. Đồng thời, đó còn là điệu múa mừng giàng Tro- vị thần nông nghiệp của người Pa Cô. Sự tôn vinh các thần qua từng nhịp điệu và qua trình tự các điệu múa tiếp diễn nhau.

Bên ché rượu cần, bếp lửa hồng, mùa đông tái tê như không còn ngự trị, dân làng ấm niềm vui trong ngày tết cơm mới. Khói xuân khi ấy từ đại ngàn tràn về chung hội cùng đồng bào. Khói ủ lên mái tranh, khói bay qua những vườn cây ướt lá, lan xa trong tiếng chiêng, tiếng trống mùa lễ Aza dưới chân núi Târ-coong.

Theo Lê Vũ Trường Giang (Tạp chí Sông Hương)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2015

Về “Đồi thịt băm” gặp những nụ cười...

(MTG) - Chứng kiến hàng ngàn người dân, du khách đổ về trong ngày hội mới thấy hết cái không khí náo nức, cởi mở của những nụ cười.

< Đồi thịt băm ở phía xa.

Đang băn khoăn không biết nghỉ lễ đi chơi đâu thì PGS.TS Trần Xuân Bình – Trưởng khoa Xã hội học, Giám đốc Trung tâm KHXH&NV, trường Đại học Khoa học Huế gợi ý rằng; ‘Trung tâm KHXH&NV đang thực hiện Dự án giúp đỡ người khuyết tật ở các dân tộc ít người do Cục Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID – US Agency for International Development) tài trợ. Ngày mai có Ngày hội Văn hóa các Dân tộc huyện A Lưới năm 2015’… 

Thật là tuyệt khi được về thăm mảnh đất nổi tiếng thời chiến tranh với Thung lũng A Sầu, Đồi Abiah năm nào! Càng thú vị hơn nữa là được chứng kiến một trong những nơi đã và đang hội tụ sự hòa giải về văn hóa sau 40 năm chiến tranh của nhiều dân tộc, cộng đồng…

A Lưới cách thành phố Huế 70 km về phía Tây, có lẽ là một trong những huyện miền núi đặc biệt nhất cả nước: Trong số 46.000 cư dân, người Pa Cô và Tà Ôi chiếm đến 77%. Ba dân tộc “ít người” còn lại là Cơ Tu, Pa Hy, Kinh thì người Kinh chỉ có 9,63%!
Dulichgo
A Lưới là huyện duy nhất có địa danh cùng tên với bộ phim về chiến tranh nổi tiếng của Hollywood, Hamburger Hill – Đồi thịt băm, tức Đồi Abiah nằm trong thung lũng A Sầu (Ashou). Trận chiến từ ngày 10 đến 20.5.1969 giữa sư đoàn Không vận 101 Mỹ và 2 tiểu đoàn quân chủ lực của ta đã được phản ánh khá chân thực – đặc biệt là lột trần sự thất bại, vô nghĩa của quân đội Mỹ khi tiến hành cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà trong năm 2014, đã có đến 70 đoàn du lịch nước ngoài – chủ yếu là người Mỹ, “trở lại chiến trường xưa”.

Cũng cần nhấn mạnh rằng Hollywood có “truyền thống” làm những bộ phim về những trận đánh mà thường là quân đội Mỹ... thất bại, để rút ra những bài học cần thiết: Khác với nhiều nước là chỉ làm phim để ca ngợi chiến thắng!

< Ba anh hùng LLVT: Từ phải sang: Hồ A Nun, Hồ Vai, Kan Lịch.

Ngày hội Văn hóa được tổ chức ngoài trời ở làng Việt Tiến, xã Hồng Kim. Sự ra đời của làng Việt Tiến khá đặc biệt: Ông Nguyễn Xuân Trường, nguyên Tổng Giám đốc Công ty Việt Tiến là cựu chiến binh đã từng có mặt ở Đồi thịt băm năm nào, năm 2008 đã ủng hộ một số tiền lớn để xây 21 ngôi nhà sàn – xi măng đầu tiên cho làng, trị giá hiện nay, chỉ tính riêng phần gỗ tốt cho mỗi căn nhà đã có giá đến hàng trăm triệu đồng!

Chứng kiến hàng ngàn người dân, du khách đổ về trong ngày hội mới thấy hết cái không khí náo nức, cởi mở của những nụ cười. Khi được hỏi chị cảm thấy gì trong ngày hôm nay, nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang Kan Lịch cười rất tươi và trả lời rằng “Kỷ niệm 40 năm mà ai cũng vui là vui nhất rồi”.

Ngày hội Văn hóa và Lễ khởi công Khu Du lịch sinh thái thác Anôr được tổ chức ngắn gọn, giản dị chứ không rườm rà như nhiều lễ hội ở miền xuôi. Ngắn gọn, mộc mạc và thực tế là thông điệp của núi rừng. Du khách được tham quan, chứng kiến trình diễn điêu khắc gỗ, dệt thổ cẩm Dzèng, đan lát mây tre và được xem cuộc thi nấu ăn giữa các dân tộc với nhiều món đặc sản như Lạp, K’leng, A ật y Boh... cũng như thưởng thức món rượu được pha chế từ cây Đoác rừng...

Cảm động nhất là khi đến thăm gian hàng trưng bày sản phẩm thủ công của Hội người mù do USAID tài trợ. A Lưới có lẽ là địa phương cấp huyện có nhiều người bị nạn nhân chiến tranh nhất nước. Hơn 10% dân số bị phơi nhiễm chất độc màu da cam (4.780 nạn nhân), trong đó có 1.494 người khuyết tật – 1/5 những người khuyết tật là người khiếm thị (350 người).
Dulichgo
Sự tình cờ do quả đất không hề méo đã cho tôi gặp lại Nguyễn Văn Duy, người mà cách đây 10 năm tôi đã chấm thi và viết bài đăng ở báo Thanh niên: Chấm thi đại học người khuyết tật. Sau khi tốt nghiệp cử nhân luật, nay Duy là Chủ tịch Hội người mù A Lưới.

PGS.TS Trần Xuân Bình cho biết Dự án của USAID có nhiều phần, nhiều công đoạn; trong đó trước mắt là hỗ trợ việc làm, vốn để tạo ra sản phẩm, tiến tới quảng bá và tìm đầu ra cho sản phẩm của người mù. Nếu thực hiện tốt và được người tiêu dùng trong nước – kể cả nước ngoài quan tâm, thì sẽ tạo nên sự đổi thay đáng kể với hàng trăm người mù nói riêng, hàng ngàn nạn nhân chiến tranh nói chung...

Ông Lê Văn Trừ (người Pa Cô), Bí thư huyện ủy huyện A Lưới cho biết thêm, nhiều năm nay, A Lưới nhận được sự quan tâm chu đáo của Trung ương, tỉnh và nhiều tổ chức nước ngoài. Chẳng hạn, chính phủ Đức đã tài trợ 71 tỷ đồng để rà phá bom mìn, Hội Cựu chiến binh TPHCM tài trợ hàng trăm triệu đồng để trồng cây xanh dọc hai bên tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua huyện dài hơn 100km...

Chia tay A Lưới, cứ ngẫm mãi về những nụ cười trên mảnh đất đã từng là nơi ác liệt nhất,đẫm máu nhất trong chiến tranh: Sự kiện Đồi thịt băm khốc liệt với 73 lính Mỹ chết và hàng trăm bị thương tháng 5.1969 được các nhà sử học Mỹ coi là một trong những sự kiện tạo nên bước ngoặt chống chiến tranh của nhân dân Mỹ.

Người A Lưới đã phải chịu bao mất mát, hy sinh nhưng hôm nay, cứ rạng rỡ và đẹp mãi những nụ cười bởi sự bao dung, thứ tha từ nhiều phía. Nụ cười của ba anh hùng LLVT Hồ A Nun, Hồ Vai, Kan Lịch mà tôi mới gặp, dường như là câu trả lời giản dị và rõ nhất về cái màu xanh tươi mát chân chất của núi rừng...

Theo Hà Văn Thịnh (Một Thế Giới)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

Làng cổ Hùng Lô

(LVO) - Hùng Lô - nơi đã bảo tồn và phát huy được những nét đẹp văn hóa truyền thống, đó là ngôi đình, ngôi nhà cổ cùng điệu hát Xoan mượt mà, không chỉ mang giá trị văn hóa, lịch sử, kiến trúc mà còn là không gian sinh hoạt cộng đồng cho nhân dân, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, tri ân công đức tổ tiên.

< Biểu diễn hát Xoan tại đình Hùng Lô.

Xã Hùng Lô, TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xưa có tên là Trang Khả Lãm, nằm trong địa hạt kinh đô Văn Lang xưa. Qua nhiều thời kỳ, làng có tên: Làng Xốm, làng An Lãm, làng An Lão rồi sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đổi tên thành xã Hùng Lô.

Từ ngôi đình cổ…

< Đình Hùng Lô là quần thể di tích có giá trị văn hóa, lịch sử nổi bật trên vùng Đất Tổ.

Theo sử sách và các vị cao niên trong làng kể lại thì Khu di tích lịch sử văn hoá đình Xốm hay còn gọi là đình Hùng Lô, xã Hùng Lô được xây dựng hoàn chỉnh vào thời Lê Trung Hưng, niên hiệu Chính Hòa (1647). Ngôi đình tọa lạc trên dải đất rộng 500m2 với quy mô kiến trúc khá hoàn chỉnh, gồm: 5 gian nhà tiền tế, phương đình, lầu chuông, lầu trống và toà đại đình.

Tòa đại đình là một công trình kiến trúc trọng yếu với đường nét kiến trúc cổ thời Lê gần như còn lưu giữ được nguyên vẹn với 4 mái rộng cao, 4 góc đao cong vút như 4 cánh hoa xoè nở, hàng gạch hộp rỗng hoa chanh chạy theo bờ mái và những con kìm, con số gắn trên đầu nóc.

< Kiệu văn được lưu giữ từ năm 1697 và sẽ được dùng trong lễ rước kiệu về Đền Hùng năm nay.
Dulichgo
Những khúc quanh trên nóc mái được gắn những tác phẩm đồ gốm quý. Trên nóc đình đắp Lưỡng long chầu nguyệt. Toàn bộ nội thất của toà đại đình đều được sơn son thếp vàng lộng lẫy.

Ông Nguyễn Thanh Mại - một lão niên của Khu 2, xã Hùng Lô bồi hồi nói: “Ngôi đình Hùng Lô đã có từ lâu đời, với người dân Hùng Lô, ngôi đình vừa là nơi văn hóa tín ngưỡng lại vừa là nơi thờ cúng các vị tiền nhân có công với dân, với nước. Vì thế những ngày hội làng hay những ngày rằm, mồng 1 người dân đều dâng hương hoa, lễ vật để biểu lộ lòng biết ơn, cũng là cầu mong những điều may mắn”.

Hiện nay, Đình còn lưu giữ được nhiều cổ vật quý như đỉnh, đèn, lư hương, hạc đồng và một số bình sứ cổ, cùng những hương án, sập thờ, đồ chấp kích và nổi bật là 4 cỗ kiệu văn, 1 bộ kiệu bát cống được đánh giá rất cao về nghệ thuật điêu khắc cổ thời hậu Lê thế kỷ thứ XVII. Các kiệu văn, kiệu cống trên được sử dụng vào những ngày lễ hội rước hương đăng, đẳng vật của địa phương dâng lên Đền Hùng vào ngày giỗ Tổ và cả trong lễ hội làng Hùng Lô.

< Kiệu bát cống được lưu giữ từ thời vua Lê Trung Hưng, niên hiệu Chính Hòa, năm Đinh Sửu - 1697.

Dù quy mô của Đình rất khiêm nhường nhưng người Hùng Lô vẫn có thể tự hào vì tới nay ngôi đình không chỉ là báu vật riêng của làng mà nó đã đi vào lịch sử và trở thành di sản văn hóa của toàn dân tộc. Ông Nguyễn Thanh Tuấn, Bí thư Đảng ủy - Chủ tịch HĐND xã Hùng Lô cho biết: “Các hoạt động gìn giữ, bảo tồn di tích lịch sử quốc gia đình Hùng Lô được người dân luôn quan tâm, ủng hộ, đóng góp tiền của, vật chất cũng như tinh thần để cùng các cấp, các ngành cũng như cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện”

… đến ngôi nhà hơn 100 năm tuổi
Dulichgo
Rời Đình Hùng Lô, chúng tôi đến nhà ông Nguyễn Hoàng Phúc (Khu 4, xã Hùng Lô). Ngôi nhà cổ của gia đình ông được để lại đã qua 3 thế hệ, với tuổi thọ hơn 100 năm. Qua thời gian, một số chi tiết trong ngôi nhà đã xuống cấp, gia đình ông thường xuyên tiến hành duy tu, bảo dưỡng đảm bảo giữ nguyên kiến trúc ngôi nhà cổ.

< Hội làng Hùng Lô.

Ông Nguyễn Hoàng Phúc chia sẻ: “Là thế hệ cháu chắt, được thừa kế lại ngôi nhà cổ của các ông các cụ để lại, đối với tài sản vô cùng quý giá này thì không chỉ đời tôi mà ngay cả đời con, đời cháu cũng chỉ tôn tạo lại chứ không làm mất các kết cấu của ngôi nhà cổ của ông cha để lại cho”. Chính vì những tâm tư đó mà dù 3 thế hệ cùng sinh sống trong một ngôi nhà nhưng gia đình ông Phúc chỉ xây cất thêm một căn nhà bên phần đất bên cạnh, chứ ngôi nhà tổ tiên để lại thì hoàn toàn được giữ nguyên như là kỷ vật.
Dulichgo
Hiện nay, xã Hùng Lô còn lưu giữ được gần 50 ngôi nhà cổ từ 100 đến 200 năm tuổi. Những ngôi nhà cổ này đều được trạm khắc những biểu tượng Lân, Ly, Quy, Phượng; Tùng, Trúc, Cúc, Mai. Điều này càng được thể hiện rõ nét trong tổng thể kiến trúc của những ngôi nhà cổ.

Nguyên liệu làm nên những ngôi nhà cổ này hầu hết là gỗ, tre, nứa... những thứ có sẵn trong tự nhiên và gần gũi với cuộc sống của người dân Việt. Vì vậy, nên mỗi ngôi nhà cổ ở Hùng Lô đang được bảo tồn không chỉ về mặt kiến trúc mà còn như một phần tinh thần cho mỗi thành viên trong gia đình được gìn giữ trong ngôi nhà đó.

Những giá trị cổ ở Hùng Lô cùng nhiều di tích khác trên địa bàn TP. Việt Trì hiện đang trong tiến trình bảo tồn và phục dựng các giá trị lịch sử, văn hóa để quảng bá với người dân cũng như du khách thập phương nhằm làm rõ nét hơn nữa những đặc trưng của Việt Trì - Thành phố lễ hội về với cội nguồn dân tộc Việt Nam.

Theo Hà Hoài (Làng Việt)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

Ngày hội cây - trái ngon Chợ Lách

Hằng năm, vào những ngày trước, trong và sau dịp Tết Đoan ngọ mùng 5 tháng 5 âm lịch, từ ngày 15 đến 21-6, tại “vương quốc” hoa kiểng, cây ăn trái Chợ Lách - Cái Mơn (tỉnh Bến Tre) đã diễn ra Ngày hội Cây - trái ngon, an toàn lần thứ XV-2015. Ngày hội đã trở thành thông lệ cho các nhà vườn ở xứ sở trái cây phô diễn những thành quả thu hoạch được sau một năm chăm sóc.

< Những sản phẩm trái cây Chợ Lách - Cái Mơn được trưng bày tại Ngày hội Cây - trái ngon, an toàn năm 2015.

Ngày hội Cây - trái ngon an toàn diễn ra các hoạt động: Hội thi trái cây ngon, an toàn ĐBSCL với 9 loại trái cây: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bưởi da xanh, cam sành, quýt đường, mít, xoài và nhãn…

< Bộ tứ linh: Long, Lân, Quy, Phụng được làm bằng 2.000 trái cây các loại, do chính người dân trong vùng trồng. Bộ tứ linh này có chiều cao 4m, dài hơn 3m, được Ban tổ chức đăng ký kỷ lục Việt Nam.
Dulichgo
Điểm nhấn của lễ hội là bộ tứ linh: Long, Lân, Quy, Phụng được làm bằng trái cây do chính người dân trong vùng trồng.

< Vườn chôm chôm của ông Hai Lèo, xã Hòa Nghĩa, Chợ Lách.
Dulichgo
Đến với ngày hội, du khách còn được tản bộ tham quan các nghệ nhân làm kiểng thú, bon sai, nhân giống cây ăn quả tại vùng sản xuất hoa kiểng và cây ăn trái lớn nhất ĐBSCL, thưởng thức sầu riêng Cái Mơn, chôm chôm chín tại vườn, do chính tay mình hái.

< Sầu riêng Cái Mơn.

Dịp này, Ban tổ chức chọn vườn trái cây đẹp, giới thiệu khách du lịch tham quan; tôn vinh nhà vườn giỏi… và tổ chức những chuyến tham quan du lịch xuôi dòng kênh Chợ Lách, ra sông Cổ Chiên đến với cồn Phú Đa - một khu bảo tồn ốc gạo nổi tiếng; thưởng thức bánh xèo, hến, ốc gạo và mua sắm hàng thủ công mỹ nghệ tuyệt đẹp từ dừa…

Theo Nguyên Dừa (Báo Ảnh Đất Mũi)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015

Nguồn gốc, ý nghĩa của Tết Đoan Ngọ (5/5 ÂL)

Mùng 5 tháng 5 (âm lịch) hàng năm dân ta lại tổ chức ăn Tết Đoan Ngọ. Về nguồn gốc của Tết Đoan Ngọ, đến nay nhiều người vẫn cho rằng có xuất xứ từ Trung Quốc. Tuy nhiên, căn cứ vào một số công trình nghiên cứu văn hóa cho thấy, Tết Đoan Ngọ của người Việt hiện nay lại có một nguồn gốc hoàn toàn khác…

Về nguồn gốc Tết Đoan Ngọ

Ở Việt Nam, Tết Đoan Ngọ còn được dân gian gọi bằng một cái tên dân dã hơn: Tết Giết sâu bọ. Đây là một trong những ngày lễ truyền thống có nội hàm văn hoá phong phú. Không riêng gì Việt Nam hay Trung Quốc mà ở Triều Tiên, Hà Quốc cũng có Tết Đoan Ngọ. Từ đó cho thấy, Tết Đoan Ngọ thực chất là một phong tục lễ tết Á Đông và gắn liền với quan niệm về sự tuần hoàn của thời tiết trong năm.

Trong ca dao Việt Nam cũng có câu:

“Tháng tư đong đậu nấu chè,
Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng năm”

Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là Tết Đoan Ngọ của người Việt có liên quan gì đến Tết Đoan Ngọ của người Trung Quốc và gắn với truyền thuyết Khuất Nguyên như lâu nay từng quan niệm? Tết Đoan Ngọ còn được người Việt gọi bằng cái tên khác là “Tết Nửa Năm” (cũng có nơi là gọi là Giữa Năm). Đây được xem là tên gọi của riêng người Việt, không lẫn với tên gọi của các quốc gia khác. Vậy tại sao lại gọi là Tết Nửa năm, trong khi theo tính toán như lịch âm hiện nay thì “nửa năm” ở đây phải rơi vào tháng 6 âm lịch?

Về tên gọi Tết Nửa năm, tác giả Nguyễn Ngọc Thơ trong “Lại bàn về nguồn gốc tết Đoan Ngọ” giải thích: “Thời cổ đại, người Việt Nam dùng lịch kiến Tý, do vậy tháng mở đầu trong năm là tháng 11 âm lịch. Theo cách tính này, ngày 5 tháng năm rơi vào thời điểm nửa năm, do vậy dân gian Việt Nam rất chuộng tên gọi tết Nửa năm”.

Về nguồn gốc của Tết Đoan Ngọ, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Ngọc Thêm khẳng định: Tết Đoan Ngọ Việt Nam có cùng một khởi nguồn với vùng đất Bách Việt ở Nam Trung Hoa (vào khoảng vùng hạ lưu Dương Tử trở xuống) và Bắc Đông Dương.

Tác giả luận giải: Từ ngàn xưa đây vốn là vùng nông nghiệp lúa nước trù phú do các dân tộc Bách Việt gầy dựng nên. Do nằm dọc hai bên chí tuyến bắc, mùa hè ở đây oi bức, khó chịu, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người. May mắn, người nông dân với nghề lúa nước luôn đòi hỏi phải quan sát thời tiết, cố để tránh tối đa những tác hại của nó và tận dụng hữu hiệu những lợi thế mà tự nhiên mang lại, nhờ vậy phong tục tết Đoan ngọ hình thành, đánh dấu một cột mốc quan trọng của chu kỳ tuần hoàn thời tiết (Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB TP HCM, 2004).

Trong cuốn “Lễ tết Trung Hoa” của W. Eberhard (Chinese Festivals, N.Y. 1952) viết: “Đoan ngọ là tết của phương Nam, tết cầu may, tết của sự sống” (Double fifth is a Southern festival, lucky festival or festival of the living).

Tác giả Nghê Nông Thủy, thuộc Hội Dân tộc học Trung Quốc cũng thừa nhận: “Tết Đoan Ngọ là cống hiến to lớn của người Bách Việt đối với văn hóa Trung Hoa” (Hội Dân tộc học Trung Quốc, 2011).

Như vậy, có thể thấy, Tết Đoan Ngọ xưa là do nhân dân lao động cùng nhau sáng tạo, cùng hưởng thành quả và không ai làm tác giả cụ thể. Nó là thành quả từ trí tuệ của truyền thống nông nghiệp phương Nam của các bộ tộc Bách Việt. Về sau, cùng với việc xâm lấn và mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam sông Dương Tử, Tết Đoan Ngọ được người Hán tiếp nhận và hưởng ứng. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương khác nhau lại gắn vào nhiều điển tích khác nhau với các nhân vật như Ngũ Tử Tư, Việt vương Câu Tiễn, Khuất Nguyên đến Tào Nga, Trần Lâm…

“So với người Trung Quốc, người Việt Nam thiên hẳn về lối sống dân gian, tư duy tổng hợp – trừu tượng và truyền thống văn hóa truyền miệng đã giúp gìn giữ phong tục ngày tết này mà không cần thiết gắn liền với các nhân vật lịch sử. Ngược lại, Trung Quốc lớn, dân số đông, dân tộc đa dạng, việc chính thức hóa một phong tục dân gian bằng thao tác gắn chúng với các nhân vật lịch sử có chức năng tích cực, nhất là trong chức năng đại đoàn kết dân tộc” (trích An Nam phong tục sách, Mai Viên Đoàn Triển, NXB Hà Nội, 2008).

Nhìn lại lịch sử, suốt một nghìn năm Bắc thuộc, Việt Nam đã tiếp nhận văn hóa Trung Hoa, đặc biệt là dòng “văn hóa quan phương” gắn liền với hệ tư tưởng Nho gia và hệ thống chữ Hán. Do chính quyền đô hộ thực hiện chính sách “đồng hóa”, một số phong tục, tập quán của người Việt bị bắt phải bỏ hoặc thay đổi cho phù hợp với văn hóa Hán. Điều này đã được chính sử sách Trung Hoa chép lại (xem thêm “Ngô chí”).

Sự giao thoa và du nhập tự nhiên cùng với chính sách “cưỡng bức văn hóa” của chính quyền đô hộ phương Bắc đã tạo nên một hệ quả tất yếu đó là hình thành diện mạo văn hóa có phần “mới” của Việt Nam trong nhiều thời kì lịch sử sau đó. Tết Đoan Ngọ cũng không ngoại lệ. Nó được gắn vào khung lý luận chính thống cùng các ý nghĩa, chức năng mang tính quan phương khác như “tưởng nhớ Khuất Nguyên”, “tưởng nhớ Ngũ Tử Tư”, “tưởng nhớ Trần Luận và Nguyễn Thiệu” và kéo dài trong suốt nhiều năm.

Bởi vậy, không thể quan niệm Tết Đoan Ngọ của người Việt bắt nguồn từ Trung Quốc như một số người vẫn lầm tưởng như hiện nay.

Theo Minh Trang (Gia Đình VN)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Độc đáo lễ hội Ramưwan của người Chăm

(NLĐ) - Trong 3 ngày từ 16 đến 18-6, tỉnh Ninh Thuận tưng bừng tổ chức lễ hội Ramưwan, một lễ hội văn hóa truyền thống đặc sắc của cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo (Bà Ni).

< Bà con người Chăm ra nghĩa địa dòng họ để quét tước, dọn dẹp sạch sẽ.

Lễ hội Ramưwan thể hiện ý nguyện tưởng nhớ tổ tiên, cầu cúng gia đạo bình yên, xóm làng thanh tịnh, ấm yên của đồng bào người Chăm.

< Bà con mang sính lễ đến Thánh đường cúng kính, chuẩn bị cho tháng chay tịnh Ramưwan.
Dulichgo
Mở đầu cho lễ Ramưwan là lễ tảo mộ. Bà con người Chăm mang lễ vật đến các nghĩa địa (ghurrăk) để tảo mộ và cúng bái, mời tổ tiên về hưởng mùa Ramưwan với con cháu.

Sau lễ tảo mộ, mỗi gia đình sắm sánh lễ vật (gồm 2 loại thức ăn ngọt và mặn) để cúng gia tiên với nghi thức cầu khấn tên một vị thần, vị tổ tiên phù hộ an lành cho toàn gia tộc, xóm làng.

< Các chức sắc Hồi giáo tổ chức khai lễ Ramưwan tại thánh đường.

Trong những ngày này, các làng Chăm Bà Ni tổ chức văn nghệ, các trò chơi dân gian, thể thao... để các dân tộc khác đến chung vui, kết tình thân hữu.
Dulichgo
Kết thúc nghi lễ cúng gia tiên, các chức sắc Hồi giáo vào hẳn trong Thánh Đường để cầu kinh và chay tịnh trong suốt một tháng. Trước đó, tín đồ Chăm mang lễ vật đến Thánh Đường để dự khai lễ Ramưwan.

Ninh Thuận, một tỉnh cực Nam Trung bộ có khoảng 60.000 đồng bào Chăm sinh sống.

Theo L.Trường (Người Lao Động)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Cuộc đua ngựa 'độc nhất vô nhị' ở VN

(VNN) - Những chú ngựa tham gia cuộc đua là những chú ngựa hàng ngày thồ hàng hoá khắp các nẻo đường của bản làng, nay trở thành kỵ mã tung vó trên đường đua.

Trong hai ngày 6-7/6, giải đua ngựa truyền thống huyện Bắc Hà (Lào Cai) lần thứ 9 đã diễn ra sôi nổi hào hứng nhưng không kém phần ghanh đua quyết liệt.

Đây là lần thứ 9 huyện Bắc Hà tổ chức giải đua ngưa, được xem là cuộc đua "độc nhất vô nhị" ở Việt Nam, bởi những nài ngựa tham gia cuộc thi là những nông dân thực thụ ở các xã vùng cao của huyện Bắc Hà, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai và huyện Sín Mần, tỉnh Hà Giang.

< Cuộc đua thu hút đông đảo du khách tới xem và cổ vũ.
Dulichgo
Đây cũng là cuộc đua của những chàng trai vùng cao có lòng dũng cảm khi ngồi trên những kỵ mã không yên, không bàn đạp chân và không roi quất ngựa.

< Ghanh đua trên đường chạy.

Những chú ngựa tham gia cuộc đua là những chú ngựa hàng ngày thồ hàng hoá khắp các nẻo đường của bản làng, nay trở thành kỵ mã tung vó trên đường đua.

Chính nét dân dã này đã làm cho giải đua ngựa hấp dẫn và thu hút trên 30.000 lượt khán giả trong và ngoài nước đến theo dõi và cổ vũ.
Dulichgo
Tham gia giải năm nay có 78 nài ngựa, qua đó chọn 32 nài ngựa lọt vào vòng chung kết. Giải năm nay tiếp tục có sự góp mặt của những gương mặt quen thuộc như: Vàng Văn Huỳnh, Vàng Văn Thức, Vàng Văn Cương, Sùng Seo Dùng…

Bên cạnh đó, còn có nhiều gương mặt mới, với quyết tâm cao, thi đấu hết mình, đem đến nhiều kịch tính cho giải đua.

Với kinh nghiệm và bản lĩnh nhiều năm nay, vận động viên Vàng Văn Quyết ở xã Na Hối, huyện Bắc Hà đã bảo vệ thành công chức vô địch và giành giải nhất cuộc đua với phần thưởng là 20 triệu đồng.

Theo Bảo Long (Vietnamnet)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

Trong lành Giếng Tanh

Giếng Tanh là ngôi làng duy nhất của xã Kim Phú (Yên Sơn) còn giữ được nguyên bản những nét văn hóa độc đáo của dân tộc Cao Lan. Trải qua thời gian và những thăng trầm của lịch sử, người Cao Lan của ngôi làng

< Đình làng Giếng Tanh được xây dựng lại năm 1980.

Giếng Tanh vẫn giữ được vốn văn hóa độc đáo của dân tộc mình. Những ngày xuân thư thái, về làng văn hóa Giếng Tanh tham dự hội làng, mọi người sẽ được thưởng thức những khúc hát Sình ca, những vũ điệu truyền thống và cả những câu chuyện làm giàu...
Đình làng Giếng Tanh thuộc làng Giếng Tanh, xã Kim Phú, huyện Yên Sơn, là nơi tâm linh tín ngưỡng thể hiện bản sắc cộng đồng cư dân sống trên đất Giếng Tanh.

Trong năm đình làng Giếng Tanh diễn ra nhiều lễ hội, lễ hội chính được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm.

< Nghi lễ Lễ hội Đình làng Giếng Tanh.

Ngoài ngày lễ chính còn có  các ngày lễ phụ: Lễ khai xuân tổ chức vào ngày mùng 2 tháng Giêng; Lễ cúng cơm mới tổ chức vào ngày 15 tháng 8 âm lịch; Lễ Thượng điền tổ chức vào ngày 9 tháng 11 âm lịch; Lễ Khép ấn tổ chức vào ngày 25 tháng 12 âm lịch. Các ngày lễ phụ tổ chức đơn giản: Thắp hương, dâng lễ là sản vật địa phương làm ra (cúng cơm mới) để tưởng nhớ, biết ơn tổ tiên đã tạo dựng nơi cư chú, cầu mong có cuộc sống yên vui, hạnh phúc.

Ngày hội chính được tổ chức trọng thể có đủ cà phần lễ và hội Phần Lễ mở đầu ngày hội có 7 người tham gia gồm: Chủ tế, xướng tế, người đọc văn tế và 4 chấp Dư (chủ tế mặc áo đỏ, còn lại tất cả mặc áo xanh). Phần tổ chức cúng tế trong đình theo nghi thức cổ truyền, nội dung chủ yếu là cầu cho mưa thuận, gió hoà quốc thái dân an, mùa màng tươi tốt, gia súc sinh sôi...

Phần tế lễ nghiêm trang thành kính nhưng không thể hiện mê tín dị đoan mà thuần khiết là tâm linh tín ngưỡng. Khi kết thúc cúng tế, phần hội bắt đầu bằng Lễ tung còn thu hút nhiều người tham gia và náo nhiệt nhất. Các trò chơi đấu vật, kéo co, biêu diễn nghệ thuật... cũng đồng thời diễn ra trong một không khí hội hè sôi động tưởng chừng không dứt. Hội đình làng Giếng Tanh thực sự góp phần xây dựng đời sống văn hoá, tinh thần của cộng đồng các dân tộc Kim Phú.

< Giếng Tanh, biểu tượng di tích lịch sử văn hóa của làng.

Tương truyền rằng, người Cao Lan trên đường đi khai hoang, thấy nơi đây đất đai bằng phẳng, cây cối tốt tươi bởi có một dòng nước trong vắt từ lòng đất chảy ra và điều ấy đã níu chân họ ở lại vùng đất này, lập nên chòm xóm. Nơi dòng nước chảy ra có hình một cái giếng, nước trong vắt và đầy ắp nhưng lại có mùi tanh vị đất, bà con đặt tên là Giếng Tanh. Các gia đình trong làng lấy nước giếng để sinh hoạt và cảm thấy mọi bệnh tật như được xua tan. Người Cao Lan vỡ đất hoang làm ruộng, lấy nước từ lòng Giếng Tanh, lúa tốt bời bời, vụ nào cũng trĩu bông, cuộc sống ngày càng sung túc.
Dulichgo
Biết ơn “thổ địa” mang đến cho làng cuộc sống đủ đầy, người Cao Lan đặt tên làng Giếng Tanh từ ấy. Rồi người làng xây dựng đình thờ những người có công lao to lớn che chở cho dân làng có cuộc sống thanh bình, mùa màng tốt tươi. Ông Tiêu Cao Bắc, người từng nhiều năm làm chủ tế của đình làng Giếng Tanh cho biết, đình được xây dựng vào năm Bính Tuất (1706) thờ hai vị tướng của Vua Hùng là “Đức vua cả Ngọc Sơn quân linh ứng đại vương” và “Đức vua cả Nghiêm Sơn trung chính lệnh ứng đại vương” xuống miền Yên Sơn để bảo hộ dân làng Giếng Tanh.

< Cụ Hoàng Trường Vinh kể về lịch sử Giếng Tanh.

Đình còn thờ Quốc mẫu Thiểm Hoa công chúa, Thần Nông, Thần Thổ địa và Long Vương là những vị thần phù trợ cho nghề nông của làng. Lễ hội đình làng Giếng Tanh được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Giêng Âm lịch hàng năm; sau các nghi thức của phần lễ, phần hội với nhiều trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Cao Lan. Hội đình làng Giếng Tanh thực sự là niềm háo hức của bà con để được đắm mình trong làn điệu Sình ca và tưng bừng với trò chơi kéo co, đẩy gậy, tung còn...

Anh Tiêu Văn Ý, một người trong làng bảo rằng, anh thích đi hội nghe hát Sình ca với những làn điệu đắm say về tình yêu đôi lứa. Nghe hát, các bạn trẻ càng trân trọng giá trị của tình yêu và không ít người đã nên duyên sau đêm hội ấy... Người Cao Lan ở Giếng Tanh còn duy trì và phát huy giá trị nhiều làn điệu dân vũ như múa “Chim gâu”, múa “Xúc tép”, múa “Khai đèn” và nhiều người già trong làng còn giữ được cả “kho” truyện cổ, nhạc cụ dân tộc như trống, chiêng, thanh la, sáo, nhị, kèn tổ sâu, chuông... Người già trong làng truyền dạy cho lớp trẻ hát Sình ca, múa xúc tép và sử dụng các nhạc cụ dân tộc, ngày hội trở nên huyền ảo và ngây ngất lòng người.

< Thi khâu còn tại Lễ hội.

Thời gian trôi đi, làng Giếng Tanh giờ đây đã có 357 nóc nhà với 1.322 nhân khẩu. Cái giếng năm xưa đã hàng trăm năm tuổi nhưng dòng nước vẫn ăm ắp trong lành. Người làng bảo nhau giữ gìn cái giếng nước như giữ “linh vật”, dẫu cuộc sống có muôn vàn đổi thay thì Giếng Tanh mãi là biểu trưng cho sự trù phú của làng. Lớp trẻ hôm nay tiếp bước cha ông xây đắp xóm làng thêm giàu đẹp.
Dulichgo
Chúng tôi đi tham quan một vòng làng văn hóa Giếng Tanh. Con đường làng được khoác lên “chiếc áo bê tông” thênh thang, rộng rãi. Hai bên đường thấp thoáng những ngôi nhà sàn, nhà mới xây, Giếng Tanh trở nên thơ mộng biết nhường nào. Cuộc sống mới đang ùa về từng gia đình, câu chuyện làm giàu trở nên rôm rả. Anh Hoàng Văn Kiều là điển hình của làng trong phong trào làm kinh tế giỏi. Anh “tham” việc lắm, làm đủ nghề từ nuôi lợn quy mô lớn đến làm dịch vụ máy cày, máy bừa và trộn bê tông... cuộc sống gia đình anh khấm khá lên từ ấy. Anh bảo, phải cố cho xong mọi việc để yên tâm đón Tết, ra Giêng vui hội Giếng Tanh.

Cuộc sống no ấm đang hiện hữu ở làng văn hóa Giếng Tanh. Tỷ lệ hộ nghèo hiện chỉ chiếm 7% tổng số hộ của làng, hơn 50% số hộ khá giàu... Chia tay Giếng Tanh mà trong tôi vẫn xao xuyến với câu hát Sình ca như lời mời gọi bạn bè về với Giếng Tanh trảy hội làng để được đắm mình với vũ điệu “Chim gâu”, tưng bừng trò chơi ném còn ước mơ tìm được bạn tình đắp xây hạnh phúc...

Theo Tuyenquang.gov
Du lịch, GO!