Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Tục thờ Thông Thiên

Tục thờ Thông Thiên là một tín ngưỡng thờ Trời phổ biến ở miền Nam nước ta. Theo tín ngưỡng dân gian, Trời được xếp trước Phật trong các đối tượng được thờ, theo thứ tự "Trời - Phật - Thánh - Thần", nên việc thờ Trời là việc đầu tiên của mỗi người, mỗi nhà.

Trước năm 1975, ở các vùng quê Nam Bộ, hầu như nhà nào cũng có đặt một bàn thờ Thông Thiên trước nhà (nhiều khi gọi là bàn thờ Ông Thiên). Bàn thờ thường được làm bằng gỗ đơn sơ, gồm một cây cột cao khoảng 1,5 m, phía trên đặt một tấm ván hình vuông, mỗi cạnh dài khoảng 0,4 m, khá giả thì đổ cột bê-tông và dán gạch men. Trên bàn thờ lúc nào cũng có một lư hương và mấy ly nước mưa (loại ly nhỏ uống trà).

Vào những ngày quan trọng như mồng một, ngày rằm thì có thêm hai chén đựng gạo, muối và mấy dĩa hoa quả. Hằng ngày, vào lúc chập tối, chủ nhà đốt một nén nhang, chắp tay đứng trước bàn thờ khấn vái, cầu Trời ban phước lành, sức khỏe, bình an… hy vọng qua làn khói nhang tỏa lên Trời mang theo những lời cầu khẩn của gia chủ, để nguyện vọng được "thông" đến Trời (thông thiên), để Trời phù hộ cho người thân và gia đình mình.

Bàn thờ Thông Thiên là nơi nối kết tâm linh giữa con người với Trời, với tổ tiên, nơi giữ mối liên hệ giữa Trời và Đất, giữa người sống và người đã khuất. Điều này thể hiện bằng việc thắp nhang thường xuyên mỗi ngày, vào lúc chập tối - là thời điểm giao nhau giữa ngày và đêm, nén nhang được cắm trên lư hương - nơi ở giữa Trời và Đất.

Hình thức thờ Trời cũng được thực hiện trong nhiều tôn giáo xuất hiện ở miền Nam. Đạo Cao Đài thờ Thiên Nhãn, có nghĩa là "mắt của Trời", với biểu tượng hình một con mắt, tượng trưng cho Thượng Đế toàn năng, thấu rõ tất cả những hành vi của con người. Đạo Hòa Hảo ngoài việc thờ Cửu Huyền Thất Tổ và các anh hùng liệt sĩ có công với đất nước, mỗi gia đình tín đồ còn có một bàn thờ Thông Thiên trước sân nhà để tưởng nhớ Trời Đất.

Đối với người nông dân, ông Trời được xem là đối tượng có tài năng, có phép màu và có lòng từ bi để cứu giúp con người, nên mỗi khi gặp tai nạn thì "cầu Trời, khẩn Phật" để cho "tai qua, nạn khỏi". Trời có khi lại hữu hình, và cũng đồng dạng với con người nên được gọi là "Ông", ông Trời có mắt:
Dulichgo
"Trời ơi ngó xuống mà coi. Vợ tôi nó đánh bằng roi trâm bầu" (ca dao), và cũng có tai "Ai ơi chớ có ăn lời. Bụt kia có mắt, ông Trời có tai" (ca dao). Và ông Trời là người có trách nhiệm nên người ta tin rằng "Trời sinh voi, Trời sinh cỏ", "Trời sinh, Trời dưỡng", "Trời không phụ lòng người".

Như vậy, ông Trời từ một "đấng siêu nhiên" đã đi vào nhà người nông dân Nam Bộ, thấu hiểu tâm tư, tình cảm, chứng kiến những vui buồn, thấy được những khó khăn, vất vả của người nông dân và sẵn sàng ra tay cứu giúp. Ông Trời trở nên gần gũi như ông bà, cha mẹ, như người thân trong gia đình, nên việc thờ Trời là hết sức bình thường, hết sức tự nhiên.

Người Nam Bộ vốn chất phác và phóng khoáng trong cuộc sống và sinh hoạt nên sự hỗn dung trong việc thờ tự cũng được biểu hiện rõ nét. Người ta dễ nhận thấy nhiều bàn thờ Thông Thiên đôi khi còn có kết hợp thờ ông Tà bên cạnh, có khi là mấy hòn đá đặt bên cạnh lư hương, có khi là một góc nhỏ dưới chân bàn thờ Thông Thiên. Gặp ngày giỗ ông bà, hoặc ngày lễ, ngày Tết, cúng tổ nghề, tổ nghiệp… người ta cũng kết hợp luôn để cúng "ông Trời".

Nếu trong nhà có một mâm cơm cúng thì trên bàn thờ Thông Thiên cũng có lễ vật, hoặc là hoa quả, hoặc dĩa xôi, có khi rượu thịt. Ngày tất niên, gia đình nào cũng có mâm ngũ quả đặt trên bàn thờ Thông Thiên, hoặc trái dưa hấu tròn đầy đặn để cúng Trời, cầu nguyện cho sự sung túc cả năm.
Dulichgo
Hiện nay, nhiều địa phương ở Nam Bộ vẫn còn giữ tục lệ này, nhất là những vùng nông thôn. Quan sát bàn thờ Thông Thiên có thể nhận thấy sự mộc mạc, giản dị và chân thành của người dân đất phương Nam. Tuy nhiên, ẩn sâu trong đó là triết âm - dương đã tồn tại qua hàng ngàn năm với biểu tượng vuông - tròn vốn hiện hữu lâu đời trong tâm thức của người Lạc Việt.

Bàn thờ hình vuông tượng trưng cho đất (thuộc âm), lư hương hình tròn tượng trưng cho Trời (thuộc dương). Khát khao vươn đến sự hoàn hảo của người phương Nam được thể hiện thường trực hằng ngày qua hình ảnh bàn thờ Thông Thiên: có vuông - có tròn, có âm - có dương.

Theo Huỳnh Thăng (Cà Mau Online)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Khói xuân về trú xứ Târ-coong

Đi qua miền sơn cước lớp lớp mây mù giăng trên những đầu núi, vượt đèo A Co, những cơn gió đông của A Lưới heo hút, lạnh băng xộc từ những hẻm núi sâu táp sa mặt mũi.

< Vượt đèo A Co.

Cái lạnh vùng sơn cước miền Tây rét buốt làm tê rần da thịt, lên hai bàn tay lỡ chạm nhẹ vào gió trời lao xao giữa đường vắng. Cái lạnh thơm hương của những đóa hoa rừng e ấp nở đâu đó trên rừng xa. Mỗi lần lên chốn này, bài hát “Nụ cười sơn cước” của Tô Hải ngân vang, gởi lòng hoa trắng không tàn với khúc nhạc xuân đồng điệu giữa cảnh sắc núi rừng.

Ngày những bông lúa cuối cùng đã được tuốt hết nơi nương xa, đem về phơi phóng bỏ vào kho, mùa lễ hội Aza - Tết mừng cơm mới, cũng bắt đầu rộn rã khắp các veel (làng) Pa Cô. Ngỡ như núi rừng A Lưới xích đến bên nhau, cùng nắm tay hòa điệu Pâr-lư truyền thống bên lửa ấm nồng, bỏ mặc cơn giá rét không ngớt rủa hờn mưa gió.
Dulichgo
Miền sơn cước A Lưới, thường vụ mùa kết thúc vào giữa tháng 10 Âm lịch khi tiết trời se sắt. Chúng tôi đến đón tết Aza tại làng Đụt, xã Hồng Trung, huyện A Lưới cùng đồng bào Pa Cô nơi đây.

Đường vào làng sũng nước, cỏ cây lướt thướt trong màn mưa dày dặc. Phía cuối làng, mây sà cả xuống ruộng nương, khiến lòng người như tiếc nuối cái màu xanh mới đây thôi còn phủ khuất những thớ đất nâu. Cứ nhìn mãi cảnh mưa gió ấy, tết cơm mới lẩn lụt đâu mất theo bước chân qua hàng dậu thưa. Vậy mà, càng sâu vào làng, lửa bếp ấm nồng thắp sáng những ngôi nhà nấp kín dưới bóng cây ướt. Khói xông từ nhà ra ngõ, từ ngõ ra đường, đường phủ sương. Chúng tôi háo hức hẳn lên, bước nhanh vào một nhà sát đường nơi có ông Quỳnh Hồ - Trưởng làng Đụt đương chờ.

Lễ Aza còn được gọi với các tên khác như: Tết cơm mới, Lễ tri ân cây lúa. AZa là một trong những truyền thống văn hóa đặc sắc của người Pa Cô, một cái tết của đồng bào khi kết thúc vụ mùa, là cái tết tiễn đưa năm cũ, đón chào năm mới, chuẩn bị cho mùa vụ mới. Lễ Aza một năm được tiến hành một lần, với đồng bào Pa Cô là để cầu mong nương rẫy xanh tươi, mùa màng bội thu, nhà cửa bình an, mọi người trong nhà khỏe mạnh, không ốm đau, năm mới phát đạt, no ấm, con cái học hành tiến bộ hơn. Tết cơm mới Aza cũng là tết đoàn tụ, người Pa Cô dù làm ăn, sinh sống ở đâu cũng cố gắng về quê, sum họp cùng gia đình, cùng veel như người Kinh về nhà ngày tết Nguyên Đán. Có lẽ vì thế, Aza mang màu sắc tết của gia đình, dòng họ và của veel.

Để có những lễ vật dùng để cúng tế trong lễ Aza, người làng phải chuẩn bị từ những ngày trước đó. Mọi công việc ở các gia đình đều được phân công chu đáo, người lên rừng, kẻ ra nương, người ở nhà lo liệu các việc. Họ đặc biệt chú ý nấu món bánh Aquâr bằng nếp thật thơm dẻo, một loại bánh ví như bánh chưng, bánh tét trong tết cổ truyền của người Kinh. Những con vật trong nhà nuôi lớn được như gà, vịt, heo, dê… tùy khả năng của mỗi nhà được làm thịt để cúng tế. Các thứ nông sản do gia đình thu hoạch được từ ruộng nương về. Ngoài ra, đồng bào còn phân công người lên rừng bẫy thú, ra khe suối bắt cá để làm món ăn cúng các Giàng.

Thường thì công việc chuẩn bị được tiến hành trước ngày Aza một vài ngày. Đến ngày đã ấn định lễ, đại diện hội đồng làng sẽ đánh lên những tiếng trống da dê để báo hiệu thời khắc Aza đã đến. Ngày nay, do điều kiện sinh hoạt, tiếng kẻng sắt đã thay thế cho tiếng trống ngày xưa. Sau tiếng báo hiệu, các nhà bắt đầu dâng lễ cúng mời thần linh về dự lễ Aza. Các thần linh được cúng trong lễ Aza bao gồm: Giàng Tro - giống như Thần Nông của người Kinh, đại diện cho cây trồng; Giàng Pơnanh - thần Chăn nuôi, đại diện cho gia súc; Giàng Panuôn - thần Buôn bán; Giàng Sưtarinh - Thần Đất, cùng các thần núi, thần sông, thần suối, cây cỏ, động vật… Rồi còn có lễ vật dành cho các thần làng, dòng họ, rồi ông bà cha mẹ… Như vậy, hầu hết các thần đều được cúng trong dịp Aza. Một lễ Aza đầy đủ thường qua các bước nghi lễ truyền thống như: lễ giao ước, lễ tẩy rửa lễ chuẩn bị vật chất, lễ cúng Aza, nghi lễ ăn tết Aza chung cả làng.

Mâm cúng tế ngày lễ Aza không nhà nào giống nhà nào, tùy thuộc vào hoàn cảnh vật chất và năng suất vụ mùa của mỗi gia đình. Đồng thời, sự khác nhau cũng bắt nguồn từ thần của dòng họ khác nhau của đồng bào. Những phẩm vật được mang cúng được chia làm 2 loại, thực vật và động vật. Thực vật bao gồm: lúa và nếp là lễ vật chủ đạo, được nấu thành cơm, hoặc làm bánh Aquâr; khoai, sắn, môn, mía, ngô… Các phẩm vật động vật là những con vật nuôi trong nhà như dê, lợn, gà, vịt hoặc thú rừng săn bắn được luộc hoặc nướng. Đặc biệt, hầu như nhà nào cũng cố gắng săn được một con chuột rừng để dâng lên các Giàng. Từ chuột rừng, người Pa Cô làm món Adut hay còn gọi là Alap là món trộn thịt chuột, nếp, sắn, đọt chuối và một vài gia vị khác. Đây là món đặc sắc của người Pa Cô trong ngày lễ Aza.

Đặc biệt, có một tín vật hết sức linh thiêng và không thể thiếu để thực hiện một nghi lễ trong quá trình tổ chức Aza là tâng-họt, được vót từ những cây tre nhỏ bằng cây đũa, tạo thành 3 tầng, y như những bông hoa bám lên thân tre. Chúng được cắm trên các lễ vật dâng cúng trong Aza. Sự đa dạng của lễ vật và món ăn được tăng thêm màu thiêng hóa bởi những bông hoa tre tâng-họt trắng trên màu tối của lễ vật, của không gian hành lễ.
Dulichgo
Không gian của lễ cúng Aza trở nên lung linh, ấm cúng hơn khi những tấm dzèng treo quanh. Những tấm dzèng là phức hợp hoa văn vô cùng phong phú và đa dạng, tái hiện lại những chi tiết gắn liền với đời sống của đồng bào Pa Cô. Chúng thể hiện sự khang ninh của một gia đình, qua cách thể hiện lối tạo hoa văn bằng cườm một cách công phu, đầy sáng tạo. Các tấm dzèng được treo bên trên mâm tế hay treo quanh không gian bày lễ, tùy theo cách của mỗi gia đình.

Người nhà xông khói được lấy từ thân cây thông rừng, phả ra mùi hương dịu nhẹ, quyện không khí linh thiêng khắp nhà. Trong làn khói mờ ảo ấy, người chủ, đại diện cho cả gia đình ngồi bên mâm cúng tế tự mình xưng cầu những điều tốt lành, xung quanh con cháu chăm chú lắng nghe. Thi thoảng những tiếng chiêng, trống da dê vang lên đệm nhịp. Họ khấn rất lâu, chủ yếu là những lời tán dương các thần đã phù hộ trong mùa cũ, năm cũ, cầu mong các thần gia ân trong mùa mới, năm mới.

Xong lễ cúng, người nhà cùng nhau ném hoa tre tâng-họt lên rui nhà hoặc các vị trí cao như tủ, góc mái trong nhà. Tâng-họt đậu trên các vị trí ấy càng nhiều thì may mắn, thành công trong năm mới sẽ đến nhiều hơn với gia đình. Đây là phần nghi lễ tại nhà vui nhất, từ trẻ đến già mọi người đều phấn khởi lấy tâng-họt của mình để ném.

Người bạn trong chuyến đi của chúng tôi còn kể rằng, ở lễ Aza của đồng bào Pa Cô cũng có nghi thức giống đồng tiền âm dương sấp ngửa của người Kinh mỗi lần cúng vái. Đó là ở gia đình ông Ku Đanh, lâu lâu có 2 mảnh tre, được gọi là avõ-tâng-lân lâu lâu được ném lên sau mỗi câu xướng tên các giàng.

Khi 2 mảnh avõ-tâng-lân rơi xuống, ông Ku Đanh nhìn chúng gật gù hay lắc đầu tùy vào cách rơi của chúng. Avõ-tâng-lân còn được các trưởng lão đem ra dùng tại Moòng chung hỏi những cơ sự của veel. Nghi thức này của người Pa Côcho thấy có mối tương đồng hoặc có sự ảnh hưởng từ dân tộc Kinh .
Dulichgo
Sau khi tổ chức cúng các Giàng trong nhà xong, nhà nào cũng lấy một phần lễ vật mang đến nhà chung của làng để góp lễ chung vui với mọi người trong làng. Theo truyền thống, mỗi nhà tự giác góp chung lễ vật vào mâm lễ cúng tế của làng, không có sự phân biệt giàu nghèo. Lễ Aza của làng mang ý nghĩa cúng Giàng chung của cả làng. Đó là những vị thần bảo hộ cho làng và những người thành lập làng. Trước đây, khi chưa có Moòng chung, tức nhà sinh hoạt cộng đồng hiện nay, phần lễ vật giành cho làng sẽ được mang đến nhà dài, nhà sàn của trưởng làng để chung vui. Từ khi có Moòng chung, Aza của làng được tổ chức ở đây.

Lễ vật mang ra Moòng chung thường là những lễ vật ngon nhất của gia đình. Bóng dáng các em, các mẹ tay xách, lưng gùi lễ vật đi trong cơn mưa ướt át, giá lạnh trông rất thương. Con đường vào Moòng chung nhoèn nhoẹt đất đỏ, bùn lấm cả chân nhưng ai cũng tươi vui đi dự lễ.

Sau khi các gia đình trong làng tề tựu đến nhà sinh hoạt cộng đồng đông đủ, trưởng làng báo hiệu, bà con bắt đầu khấn nguyện sự yên bình, hòa hợp và no ấm cho làng. Trưởng làng và một vài vị cao niên đại diện cho làng, cho các dòng họ trong làng đứng ra làm lễ. Chốc chốc, dứt một lần tế với những câu xướng danh các giàng, một hồi chiêng nổi lên. Dứt hồi chiêng, việc cầu khấn lại tiếp tục. Sau đó, cũng như ở nhà riêng, ai cũng cầm hoa tre tâng-họt ném lên trần nhà sinh hoạt cộng đồng và vui cười.

Vậy là lễ Aza đã xong. Trưởng làng đánh chiêng báo hiệu sự mừng vui của làng cho mùa mới, năm mới bắt đầu. Khi Trưởng làng đánh chiêng, tiếng trống da dê cũng được cất lên hòa điệu chung vui. Đó là nghi thức đầu tiên, sau khi dứt giai điệu chiêng trống ngân vang ấy, nam thanh nữ tú trong làng bắt đầu đi vòng quanh nơi cúng giàng của làng và múa điệu pơchiêngcoon, điệu múa đầu tiên trong lễ Aza.

Điệu múa tôn vinh thần mặt trời, vị thần mang lại sự ấm áp và xanh tươi của sự sống. Tiếp theo, các cô gái trong làng lại múa điệu tuốt lúa, tái hiện công việc nương rẫy của mùa đã qua và mong muốn một mùa mới bội thu. Đồng thời, đó còn là điệu múa mừng giàng Tro- vị thần nông nghiệp của người Pa Cô. Sự tôn vinh các thần qua từng nhịp điệu và qua trình tự các điệu múa tiếp diễn nhau.

Bên ché rượu cần, bếp lửa hồng, mùa đông tái tê như không còn ngự trị, dân làng ấm niềm vui trong ngày tết cơm mới. Khói xuân khi ấy từ đại ngàn tràn về chung hội cùng đồng bào. Khói ủ lên mái tranh, khói bay qua những vườn cây ướt lá, lan xa trong tiếng chiêng, tiếng trống mùa lễ Aza dưới chân núi Târ-coong.

Theo Lê Vũ Trường Giang (Tạp chí Sông Hương)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2015

Những tập tục đẹp ở vùng cao

(iHay) - Nhiều bản làng của đồng bào vùng cao trên khắp mọi miền Tổ quốc đang vẫn lưu giữ các tập tục độc đáo, nhằm đảm bảo cuộc sống luôn được nề nếp, an toàn và bình yên. Những tập tục ấy được người vùng cao áp dụng rốt ráo và hiệu quả từ lâu, trong khi người thành thị nỗ lực thực hiện mà chưa thấy kết quả.

Ngôi làng 'sạch như Singapore’ giữa rừng già Trường Sơn

Bất kỳ ai từng đến với làng Aur (xã A Vương, huyện Tây Giang, Quảng Nam) đều phải bất ngờ với vẻ bình yên, thanh sạch, tuyệt nhiên không có lấy một cọng rác hay một chiếc túi ni long ở ngôi làng giữa rừng già Trường Sơn này.

Già làng A Lăng Zèng (70 tuổi) cho biết: “Trẻ trong làng từ nhỏ đã được dạy về cái xanh, cái sạch, nên chẳng ai vứt rác bừa bãi bao giờ. Nếu có ai vi phạm thì sẽ bị làng phạt dọn vệ sinh trong khuôn viên làng và cả 21 nóc nhà”.

Phóng viên An Dy của iHay.vn từng đến đây cho biết, người Cơ Tu ở làng Aur dùng dòng nước ngọt lành, trong veo dẫn từ trên thượng nguồn suối về đến tận làng. Gia súc được nuôi chung ở khu vực cách làng đến nửa cây số nên con suối đẹp chảy qua làng cũng không bị ô nhiễm. Ruộng lúa được chia thửa vuông vức, đều tăm tắp… gợi nên vẻ trù phú, dư dả.
Dulichgo
Điều đặc biệt hơn nữa của làng Aur đó là tục đãi khách lạ chu đáo như người nhà. Ngay khi bước chân vào làng, bạn sẽ được mời đến một ngôi nhà xinh đẹp. Dù bạn là ai, ở đâu, nhưng đã đến được với làng thì bạn là “người nhà trời”, bạn sẽ được người làng tiếp đãi trọng thị, được chăm sóc từ miếng cơm, chén nước, chỗ nghỉ… cho đến tận khi rời làng.

Uống rượu say thì không đi xe máy

Thôn A Rầng 1 (xã A Xan, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam) có 37 nóc nhà. Trước cổng làng có một tấm bảng nhỏ ghi rõ: “Xe máy chạy qua làng hạn chế tốc độ!”. Vào những ngày lễ, ngày tết, tất cả các hộ dân trong bản làng nếu có xe máy đều tự nguyện giao nộp chìa khóa xe cho già làng.

Những ngày đó, xe máy được dắt vào nhà gươl giữa làng có người canh giữ. Và nhiều năm nay dân làng có vui say lễ hội đến ngất ngưởng không về nhà được thì ngủ luôn tại nhà gươl, tai nạn giao thông vẫn chưa bao giờ xảy ra. Không ai phàn nàn và đều tự nguyện tuân theo lời kêu gọi của làng.

Ngoài ra nếu người ngoài làng chạy qua đây mà phóng nhanh vượt ẩu, không đội mũ bảo hiểm và không chấp hành tốt giao thông cũng có thể bị làng phạt vạ đến 1 triệu đồng. Già làng Blong Jim cho biết làng dọn về đây ba năm rồi, từng ấy năm chưa có một vụ tai nạn nào xảy ra. Dân làng thấy hạnh phúc và ý thức tham gia giao thông rất cao.

Ấn tượng bữa sáng chờ cơm

Tháng 8.2014, phóng viên Trác Rin của iHay.vn có dịp ghé thăm căn nhà của cha con “người rừng” Hồ Văn Thanh và Hồ Văn Lang ở thôn Trà Nga, xã Trà Phong, huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi, từng gây sốt khắp làng báo.

Sáng sớm hôm đó, không khí ở ngôi làng vùng cao thật lạnh lẽo, sương mù bao trùm khắp mọi nơi. Trên rừng, cành lá cây cối như được mặc thêm chiếc áo mới long lanh của những giọt sương. Lúc này, trong căn bếp nhỏ, anh Hồ Văn lang đang gói ghém cẩn thận nắm cơm cho một ngày đi rừng.

Mọi ngày, cứ khoảng 6 giờ 30 phút là “người rừng” Hồ Văn Lang đã tay xách nách mang lên đường. Riêng hôm đó, mấy đám cỏ gần nhà đã trụi, anh Hồ Văn Tri (anh của Hồ Văn Lang) phải dắt con trâu đi ăn tận bãi cỏ ngoài đồng xa. Vậy là anh Lang cùng cả nhà phải ngồi đợi, đến khi anh Tri về thì mới cùng ăn. Trong gia đình nghèo ấy có kỷ cương khiến người thành thị phải suy ngẫm: chưa đủ thành viên thì không một ai ăn trước. Điều này làm chúng tôi thật sự ấn tượng.

Bản làng người Mông không có trộm cắp, xin ăn

Bản làng Huồi Tụ của người Mông nằm cách huyện lỵ Kỳ Sơn (Nghệ An) hơn 20 km. Từ xa xưa, luật của bản làng đã quy định rõ ràng: không được lấy trộm của người khác. Một quả chuối, quả dứa trên rừng đã có chủ rồi thì không được tự tiện hái ăn. Trường hợp đói quá, lỡ ăn rồi thì sau đó phải gặp chủ nhân của nó để xin được tha lỗi.

Ở đây, mỗi nhà có một kho lúa để trong rẫy. Lúa là tài sản rất quý của người dân nhưng không cần ai trông coi, không cần khóa cửa vẫn không bị mất một hạt nào. Trâu, bò, heo, gà cứ thả rông thoải mái trong rừng nhưng cũng không bị ai bắt trộm. Xe máy của dân đi rừng, đi rẫy, để hai ba ngày bên đường cũng còn nguyên.
Dulichgo
“Ở đây, con cái từ nhỏ đã được cha mẹ, ông bà dạy rằng ăn trộm là hành vi rất xấu xa, không được làm. Ai trộm cắp sẽ bị dòng họ từ mặt cho đến khi thực sự biết hối cải mới cho gia nhập trở lại. Một người ăn trộm bị bắt thì cả bản, rồi lan ra cả xã, cả vùng biết và đều lên án”, già làng Giờ của bản nói.

Nếu ai ăn trộm mà bị bắt thì bản sẽ buộc người đó phải trả lại tang vật cho chủ và bị phạt tiền gấp đôi giá trị tài sản trộm được. Sau đó, người ăn trộm phải thế chấp một tài sản có giá trị hoặc món tiền rất lớn cho bản, do già làng giữ, đến khi nào người đó thực sự ăn năn hối cải, hứa từ bỏ thói trộm cắp thì mới được hoàn lại và được cộng đồng xóa án tích.

Luật tục ở đây còn quy định cha con, anh em, người thân trong dòng họ và cộng đồng phải có trách nhiệm đùm bọc, giúp đỡ nhau. Người không may mắn, gặp hoạn nạn, đói kém thì anh em trong dòng họ và cộng đồng phải giúp đỡ, chia sẻ. Con cháu mồ côi thì ông bà, anh em ruột thịt phải cưu mang. Ai không làm được việc này sẽ bị lên án và bị dòng họ, dân bản bỏ rơi cho đến khi họ nhận ra lỗi và xin được tha thứ. Chính nhờ quy định rất nhân văn này nên ở nơi đây không ai rơi vào cảnh cùng đường khi gặp hoạn nạn để phải đi xin ăn. Ai ai cũng tâm niệm xin ăn là điều xấu hổ, cho cả người đi xin lẫn dòng họ của người đó.
Dulichgo
Trộm tôm, phạt vạ phải mổ heo khao làng

Người dân ấp Hoàng Minh A (xã An Trạch, H. Đông Hải, Bạc Liêu) được ăn thịt heo miễn phí đến no nê mỗi khi bắt được trộm tôm ở các vuông tôm. Cái lệ này có từ mấy năm nay, ai trong ấp cũng phải thực hiện. Cụ thể kẻ trộm phải nộp phạt 5 triệu đồng cho chủ tôm và một con heo để đãi bà con lối xóm.

Thêm nữa, kẻ trộm phải đứng lên xin lỗi người bị trộm và bà con lối xóm về hành vi trộm cắp của mình; cam kết không bao giờ tái phạm nữa. Bà con mỗi người góp một lời, tha thứ rồi... nâng ly! Bữa tiệc rôm rả như ngày hội làng, người bị phạt, kẻ được phạt và bà con lối xóm hòa hợp trong tiếng cười, câu hát... Để rồi sau đó, xóm làng trở về với cái vẻ tĩnh lặng vốn có, như chưa hề có vụ mất trộm và cũng không có ai là kẻ trộm.

Ông Huỳnh Nghị Quyết (Trưởng ấp Hoàng Minh, xã An Phúc) cho biết do có quy ước với mức xử phạt khá nặng nên nạn trộm cắp ở đây giảm hẳn. Các tệ nạn khác như cờ bạc, số đề, đánh lộn... cũng giảm theo. Làng xóm yên bình, tình làng nghĩa xóm càng thêm thắt chặt.

Theo Nguyên Minh (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Nghe ca Huế trên sông Hương.

(BAVN) - Đến Cố đô Huế, buổi tối đi thuyền trên sông Hương nghe câu hát, điệu hò làm say lòng du khách.

< Bến thuyền tập kết du thuyền, phương tiện để chở người nghe ca Huế bên bờ sông Hương gần cây cầu Trường Tiền, một biểu tượng của Huế.

Một nét mới trong việc tổ chức tour ca Huế trên sông Hương đó là ngoài sử dụng nhạc cụ dân tộc để chơi âm nhạc truyền thống, các nhạc công còn có thể chơi được những bản nhạc nước ngoài quen thuộc để phục vụ các du khách đến từ các quốc gia khác nhau.

< Không gian trên thuyền, nơi để du khách thưởng thức chương trình biểu diễn ca Huế của các nghệ sỹ.
Dulichgo
Để tham gia vào chương trình, chúng tôi có mặt ở bến tàu gần cây cầu Trường Tiền mua vé và xuống thuyền Rồng để tham dự một chương trình ca Huế.

< Các ca công đảm nhiệm phần biểu diễn các nhạc cụ của ca Huế.

Đến giờ, khách đã ngồi kín chỗ trên khoang thuyền. Thuyền bắt đầu rời bến xuôi dòng sông Hương. Về đêm, thành quách hai bên bờ sông nguy nga và rực rỡ hơn trong ánh đèn màu trang trí.

< Những câu ca đối đáp trong chương trình biểu diễn ca Huế trên thuyền.

Ra đến giữa dòng, thuyền được tắt máy và thả trôi, trả lại không gian yên tĩnh cho dòng sông và chương trình được bắt đầu.

< Nhạc công với áo the, khăn xếp biểu diễn các nhạc cụ dân tộc truyền thống như đàn bầu, sáo, đàn nhị...
Các buổi tối trình diễn ca Huế trên sông Hương luôn thu hút đông du khách tham gia.

Dulichgo
Ca Huế được hình thành từ dòng ca nhạc dân gian với ca nhạc cung đình. Ca Huế thể hiện theo hai dòng là điệu Bắc và điệu Nam.

< Giao lưu giữa ca đoàn và các du khách trên thuyền.

Điệu Bắc gồm những bài ca mang âm điệu tươi tắn, trang trọng. Điệu Nam là những bài âm điệu buồn, ai oán với trên 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc.

< Hoa đăng được chuẩn bị cho du khách.

Dàn nhạc để biểu diễn ca Huế gồm có nhạc công với trang phục áo the đầu đội khăn xếp, chơi các nhạc cụ  đàn nhị, đàn nguyệt, sáo và đàn bầu. Các ca công là nữ với trang phục áo dài truyền thống và chơi các nhạc cụ sanh loan, sanh tiền.

< Du khách thả hoa đăng trên dòng sông Hương, cầu mong sự an lành sau buổi biểu diễn ca Huế.
Dulichgo
Mở đầu chương trình là các khúc nhã nhạc cung đình vang lên, tiếp đến là các làn điệu dân gian của ca Huế với Lý Mười Thương, Lý Giao Duyên ... làm cho khách du lịch được đắm mình từ thị giác đến thính giác trong không gian nghệ thuật của đất Cố đô. Thuyền trôi đến bến Vân Lâu, chúng tôi được người quản thuyền hướng dẫn thả đèn hoa đăng trên dòng sông Hương. Đây là một phong tục có từ lâu đời của người dân xứ Huế với mong muốn cầu sự an lành.

Một nét mới trong việc phục vụ du khách trong chương trình ca Huế trên sông Hương đó là ngoài sử dụng nhạc cụ dân tộc để chơi âm nhạc truyền thống các nhạc công còn có thể chơi được những bản nhạc nước ngoài quen thuộc để phục vụ các du khách đến từ các quốc gia khác nhau. Đó cũng là màn kết của đêm ca Huế, du khách nước ngoài với những bản nhạc quen thuộc có thể giao lưu cùng ca đoàn làm cho không khí trên thuyền trở nên ấm cúng và gần gũi hơn.

Theo Trần Thanh Giang (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2015

Nhớ cái cổng cưới nơi miền Tây

Ai đã một lần dự đám cưới ở miền Tây đều rất ấn tượng về cái cổng cưới do chính bàn tay cần mẫn của người dân quê làm nên.

Người miền Tây quê tôi thường có quan niệm rất riêng về ngày cưới, đó được xem là ngày quan trọng nhất trong đời sống hôn nhân. Vì thế, mọi việc trong ngày cưới cần phải lo cho tươm tất, chu toàn, đặc biệt là cái cổng cưới. Bởi thế, cũng đã từ lâu, cổng cưới “thiên nhiên” ấy có giá trị thiêng liêng làm khít chặt những mối tình quê đằm thắm.

Cổng cưới ở đây độc đáo ở chỗ, lấy nguyên liệu chính từ cây lá tự nhiên sẵn có, kết hợp hài hoà với nhau tạo thành nét đẹp riêng không thể tìm thấy ở chốn thị thành.

Ở quê tôi, phụ nữ thì lo phần ăn uống còn thanh niên thì lo chuyện làm cổng, đón khách… Các trai làng rôm rả bàn tính để làm cái cổng cưới sao cho thật đẹp để khách đến dự tiệc cảm thấy hài lòng về sự chào đón của chủ gia.
Dulichgo
Cổng cưới thường được các trai làng làm bằng lá dừa, đan kết lại với nhau, uốn lượn tạo nên vẻ đẹp mắt cho cổng. Hai cột chính lấy từ cây chuối ở trong vườn, để tàu xen lẫn với lá dừa cho cây chuối trụ vững tạo nên sự cứng rắn, vững chãi.

Những người làm cổng cưới lâu năm thường đặc biệt chú ý đến khâu chọn lá: lá dừa phải là loại còn non, chuối làm cột thì chọn cây cao to, để cho cổng đẹp hơn thì có thể quấn thêm dây đủng đỉnh để trang trí. Các chàng trai còn “non nghề” thì đứng xung quanh để học hỏi theo “anh chị”, nhìn chung cũng dễ làm, có ý một chút thì làm được ngay. Do đó, trải qua nhiều thế hệ, vẫn còn đó nhiều “thợ” làm cổng lành nghề có thể truyền kinh nghiệm cho lớp trẻ mai sau.

Nhớ lại ngày cưới của tôi, bạn bè trong xóm tôi cũng đã tập trung lại trước ngày cưới để làm cái cổng sao cho thật đẹp.

Nhớ lắm tiếng cười nói xôn xao của anh em, bạn bè xoay quanh cổng cưới, bàn tán với nhau để trang trí cho chiếc cổng đẹp mắt nhất trong ngày trọng đại này. Dù đã hơn mười năm qua, tôi vẫn giữ lại những bức ảnh lưu niệm trong ngày cưới của mình, trong đó có cái cổng cưới đơn sơ nhưng ấm áp tình làng, nghĩa xóm.
Dulichgo
Giờ đây, nơi chốn thị thành ở các nhà hàng sang trọng làm sao tìm thấy được cái cổng cưới lá dừa trong đám tiệc. Nhìn các cổng cưới được trang hoàng với những hoa văn, sắc màu lộng lẫy tôi lại thấy nhớ quê vô cùng. Thương lắm cái cổng cưới đơn sơ trong đám cưới miền quê ngày ấy mộc mạc, thân tình. Đối với tôi và đối với người dân quê tôi, cổng cưới lá dừa vẫn luôn còn mãi theo thời gian, không hề phôi pha trong tiềm thức của mỗi người.

Theo Hoàng Lê (Dân Việt)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2015

Đêm Pơ thi ma mị

(CAND) - Mặc cho cái lạnh của đá núi cao nguyên thấm vào da thịt, đêm ở làng Lút bỗng chốc sôi động hẳn lên. Dân làng Lút lại nghiêng bên ché rượu cần để tiễn biệt những người đã khuất lần nữa được tái sinh ở thế giới bên kia. Đó là lễ Pơ Thi, nơi tổng thể các nghi lễ từ cúng tế đến hội hè mang đậm bản sắc văn hóa của người Jrai. Đây là lần cuối những người sống cúng mừng cho người chết về với thế giới Atâu.

Tháng Ba, cao nguyên gần vào cuối mùa khô, khi những bông pơ-lang bắt đầu đỏ rực, tiếng ve bắt đầu tấu lên khúc nhạc rôm rả, khi người Jrai ở làng Lút (xã Ia Phía, H. Chư Păh, Gia Lai) kết thúc vụ mùa thì cũng là lúc lễ Pơ thi được tiến hành. Thế nhưng, không phải năm nào làng cũng tổ chức được lễ Pơ Thi bởi phải chuẩn bị ít nhất vài con trâu để thịt, kém hơn là vài con bò và lễ có thể kéo dài từ 2, 3 ngày hoặc cả tuần...

< Dân làng cùng chung tay làm lễ Pơ thi bên những ngôi nhà mồ.

Phải đến 40 năm từ ngày cha mẹ mất, năm nay già Chel ở làng Lút mới có điều kiện tổ chức được lễ Pơ Thi để đưa linh hồn cha mẹ về thế giới tổ tiên. Lần này dòng họ cũng tổ chức lễ Pơ thi cho 11 linh hồn (Atâu) của 8 gia đình khác. Nhiều ngày trước, những ngôi nhà mồ của dòng họ già Chel ở phía Tây làng đã rộn rã tiếng đục, đẽo của các nghệ nhân làm tượng nhà mồ–thứ không thể thiếu trong lễ pơ thi. Dulichgo

“Đối với người Jrai, ngôi làng luôn ở phía Đông, phía Tây là nơi chôn cất người chết gọi là Plei Atâu– nghĩa là làng của những linh hồn. Sau lễ Pơ Thi, linh hồn sẽ về thế giới bên kia, nơi ông bà, tổ tiên đang sống”, già Chel lý giải.

< Những tiếng cồng chiêng vang lên không dứt suốt lễ Pơ thi.

Khi những nỗi tiếc thương dần nguôi ngoai, điều kiện vật chất đã đủ thì những người thân trong gia đình và dân làng cùng chung tay làm lễ Pơ thi để những Atâu về với thế giới tổ tiên. Pơ thi lần này của dòng họ già Chel đã được chuẩn bị từ lâu nay, giờ đây, con, cháu đều góp gạo, tiền, rượu. Tính sơ có...14 con bò, 4 con trâu sẽ được mổ thịt.

Đó là một tài sản không hề nhỏ nhưng với người Jrai coi như đây là một phần tài sản chia cho người đã khuất để những Atâu được ăn no, được uống ché rượu thơm của dân làng trước khi bắt đầu hành trình tìm về thế giới khác. Thế nên, Pơ thi như một nghi lễ đánh dấu sự khởi đầu của một vòng tái sinh và là cuộc vui của dòng họ, của dân làng.

< Người thân của các hồn ma khóc thương trước khi chính thức tiễn hồn ma về thế giới bên kia.

Khi mặt trời lặn sau núi, cái se lạnh của đêm cao nguyên dần buông xuống, dân làng Lút cùng những người làng khác trong xã lại quây quần bên nhau bắt đầu đêm chính của lễ Pơ thi. Rượu vơi lại đầy, thức ăn hết lại mang lên, cồng chiêng không bao giờ ngưng tiếng. Ngôi nhà mồ được dựng mới, sạch sẽ chuẩn bị cho buổi cúng. Màn đêm buông xuống, chủ nhà–người thân của người đã khuất bước vào nhà mồ. Bên rượu, thịt bày sẵn, chủ nhà lầm rầm khấn như lời cuối tiễn biệt Atâu cho một cuộc thiên di mới. Bên bàn cúng bày sẵn những vật dụng thường ngày chia cho người chết  đều bị làm hỏng đi một phần với quan niệm thế giới của các Atâu hoàn toàn đảo ngược so với thế giới người sống: ngày là đêm, vỡ là lành, xấu là đẹp... Dulichgo

< Các “pram” diễn trò tạo không khí sôi nổi cho lễ hội.

Sau những lời khấn, những nghi lễ hoàn tất, bên ánh lửa bập bùng, dàn chiêng Atâu (chiêng chỉ dành cho lễ Pơ thi) cất lên vang vọng, đàn ông, đàn bà, già, trẻ đều đứng dậy quây tròn bên nhà mồ nhẹ nhàng uyển chuyển với nhịp xoang.

Các Bram–những thanh niên đeo mặt nạ, người bôi bùn tượng trưng cho các linh hồn đã khuất của ông cha cũng hòa vào các điệu múa bên nhà mồ để chứng kiến, dẫn dắt các Atâu về thế giới bên kia. Phần lễ kết thúc, tiếng chiêng lại chuyển nhịp vui tươi, sôi động, mọi người lại chung vui bên đống lửa, mềm môi bên những ché rượu cần. Với họ, ngày buồn vì người chết đã qua rồi, còn lại là những ngày vui không chỉ của gia chủ mà còn của cả làng, cả xã.

Theo MT (Công An Nhân Dân)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Mộc mạc chợ phiên Án Lại

Chợ Án Lại tọa lạc tại xã Nguyễn Huệ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Chợ không chỉ là nơi mua bán hàng tuần mà còn là điểm hẹn để gặp gỡ và trò chuyện của đồng bào dân tộc.

Chợ Án Lại được tổ chức vào các ngày mùng 3, 8, 13, 18, 23 và 28 âm lịch hằng tháng. Như nhiều chợ vùng cao ở các địa phương khác trong tỉnh, do 5 ngày mới có một phiên nên vào ngày có phiên chợ: nhân dân đến chợ rất đông.

Bà con ngụ ở các xã: Đức Xuân, Trương Lương (Hòa An), Phúc Sen, Quốc Dân (Quảng Uyên) và một số xã ở Hà Quảng, Bảo Lạc cũng về đây mua bán.

Những phiên giáp Tết Nguyên đán, chợ thu hút một lượng người và hàng hóa lớn hơn nhiều so với các phiên khác trong năm. Dulichgo

Nét đặc trưng nhất ở chợ Án Lại chính là các sản vật địa phương được nhân dân mang đến chợ để trao đổi, bày bán, như: rau, củ, gà, lợn, lá dong, gạo nếp… do chính gia đình trồng, chăm sóc. Đặc biệt, còn có nhiều sản phẩm nổi tiếng cả vùng, như: dao ở Phúc Sen, hương ở Phja Thắp, miến dong ở Nguyễn Huệ…

Khi mua nông cụ phục vụ sản xuất để biết thép có tốt hay không người dân lấy lưỡi của một dao gọt vào sống lưu của một con dao khác. Phần lưỡi thép đã được rèn sẽ cắt được phần gáp dao chưa tôi. Dao quắm rất hữu dụng khi bà con đi làm nương, đi rừng hoặc để chẻ tre...

Ở Án Lại bán rất nhiều mía vì đây là giống cây dễ trồng ở Cao Bằng, bên cạnh đó mía không thể thiếu bên bàn thờ tổ tiên ngày giỗ, hay lễ Tết. Lợn quay là một món đặc sản được chế biến và bán ngay tại chợ.

Dù 5 ngày mới họp có một phiên nhưng tại chợ Án Lại nói riêng và các chợ phiên vùng cao trong tỉnh nói chung không xô bồ, chen lấn. Người bán hàng không nói thách, thuận mua, vừa bán. Dulichgo

Và dù mua được hay không, người bán, người mua đều rất vui vẻ, nhẹ nhàng. Du khách đến đây sẽ cảm nhận được sự mộc mạc, đơn sơ của đồng bào dân tộc từ những món hàng đem ra chợ như chiếc bánh, hoa quả hay rau củ... cho đến cách buôn bán, giao lưu hòa nhã.

Đến phiên chợ Án Lại những ngày này, ngoài những người tham gia mua bán, phục vụ nhu cầu mua sắm thì nhiều người đến với chợ như một thói quen, để gặp gỡ, trò chuyện với bạn bè. Đây là nét văn hóa đẹp, đặc trưng của đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Bởi với họ, đến chợ, ngoài việc trao đổi hàng hóa, đây còn là nơi trao đổi thông tin, giao lưu tình cảm.

Du lịch, GO! tổng hợp từ nhiều nguồn

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015

Kỳ thú phong tục cả bản đi “ăn trộm” đêm giao thừa

(NĐT) - Đêm đông buông xuống trên vùng biên giới của huyện Phong Thổ (Lai Châu) như kéo bức màn băng giá phủ lên núi rừng. Tiết trời miền biên viễn lạnh đến mấy cũng không ngăn nổi những vụ trộm “đình đám” trong đêm giao thừa của người Dao đỏ nơi đây.

Điều kỳ lạ, “chiến lợi phẩm” trộm được không phải là tiền, đồ vật có giá trị mà là thịt lợn rừng hoặc hành, tỏi. Lại nữa, nếu tên trộm đó bị bắt thì coi như phải phạt vạ uống rượu với chủ nhà cả đêm…

Cả bản đi ăn trộm!

Từ trung tâm huyện Phong Thổ, chúng tôi men theo con đường độc đạo, một bên là vách núi, một bên là vực sâu đến Sì Lờ Lầu - xã ở nơi cao nhất, xa nhất của huyện vùng cao này. Nếu tính từ TP.Lai Châu, chúng tôi sẽ phải qua cả thảy 12 con dốc tương đương với 12 tầng núi mới đến được nơi đây.

Vì là đỉnh của 12 tầng dốc nên hoa đào nơi đây thường nở từ rất sớm. Khoảng tháng Mười Một hoa đào đã nở, để rồi khi trái đã đơm, quả đã hồng. Những cây đào này lại tiếp tục đơm hoa lần nữa vào đúng dịp xuân sang để đón chào năm mới. Bởi vậy, ngày Tết ở Sì Lờ Lầu luôn có đủ cả quả và hoa của loài cây đặc biệt, loài hoa đào đẹp nhất vùng Tây Bắc này.

Đặc biệt nhất, trong những ngày đông tàn, xuân đến, người dân nơi đây đã chuẩn bị thịt lợn treo nơi hiên hè trước cửa. Thấy chúng tôi thắc mắc, vị Chủ tịch UBND xã Sì Lờ Lầu, ông Phàn Phủ Xiên cho hay: “Cả xã bao gồm 100% là người Dao đỏ sinh sống. Người dân treo thịt lợn trước hiên để chuẩn bị cho tục lệ ăn trộm đêm giao thừa cầu may. Trong tiềm thức và quan niệm của đồng bào Dao đỏ nơi đây, tục ăn trộm ngày Tết đã có từ nghìn năm trước. Và chỉ diễn ra trong ngày Tết. Vui nhất là đêm giao thừa, sau khi làm nghi thức cúng lễ gia tiên, từ mảnh vườn đến gác bếp sẽ xuất hiện bóng dáng của những tên trộm”. Dulichgo

Theo ông Xiên, đi ăn trộm lấy may trong đêm giao thừa là tục lệ khá kỳ lạ của người dân tộc này. Người Dao đỏ tin rằng, ở thời điểm chuyển giao từ năm cũ sang năm mới, nếu ai đó mang về được một cái gì đó thì gia đình sẽ gặp nhiều điều tốt lành, ăn nên làm ra.

Đêm giao thừa là đêm đặc biệt nhất trong năm. Nó là sự chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, là khi trời đất giao hòa. Với người Dao đỏ cũng vậy, đêm giao thừa là đêm nhộn nhịp nhất trong năm, cả làng đều thức. Các cụ bà cùng trẻ em bên bếp lửa hồng với nồi bánh chưng và kể chuyện cổ tích râm ran; các cụ ông thì nhâm nhi chén rượu; thanh niên, thiếu nữ thì đi qua các nhà để xin lộc bằng cách “lấy trộm” vài củ hành, miếng thịt. Họ đinh ninh rằng trong thời khắc bước sang năm mới, nếu ai đó mang về nhà được một chút gì thì năm mới gia đình sẽ gặp nhiều điều tốt lành, làm ăn phát đạt.

“Tên trộm” bị phạt rượu đến say

Cách Sì Lờ Lầu không xa, xã biên giới Dào San (Phong Thổ – Lai Châu) cũng còn lưu truyền lại tục ăn trộm kỳ thú này. Theo lời các cụ cao niên, họ chẳng biết nó có từ khi nào. Ngày xưa, ông cha làm thế, bây giờ cũng thế thôi!

Cụ Phàn A Quảng kể, người Dao đỏ cứ đến ngày Tết là tập trung thành tốp, thành đàn đi ăn trộm. Cả xã, già, trẻ, gái, trai đều đi ăn trộm, không trừ một ai. Những thứ có thể ăn trộm được trong ngày rằm tháng Giêng này là: Cây hành, cây tỏi, thịt treo gác bếp và rượu. Người nào càng ăn trộm được nhiều thì người đó năm tới càng may mắn, làm nương được mùa, đi rừng bắt được con thú to, chăn nuôi không bị dịch bệnh và gia đình mạnh khỏe. Dulichgo

Theo lý của người Dao đỏ, vào cái đêm cả bản thành “người ăn trộm” và “người phòng chống ăn trộm” ấy nếu tên “ăn trộm” đang “hành nghề” mà bị gia đình phát hiện thì bị phạt uống một bát rượu. Còn nếu ăn trộm thành công, “tay trộm” phải mang “chiến lợi phẩm” đến nhà gia chủ để xin thưởng. Vật thưởng cho tên ăn trộm tài ba cũng chỉ là chai rượu hoặc miếng thịt sấy khô.

< Một “vụ” bắt “trộm” ngày Tết của người Dao đỏ ở Lai Châu.

Ðêm rằm biên giới, trăng như treo trên đỉnh núi, lúc ẩn, lúc hiện. Những khối mù khổng lồ từ trên đỉnh núi bất chợt ùa xuống tạo nên một không gian sáng tối, hư hư, thực thực là một điều kiện lý tưởng để trộm hành nghề. Mới 7h tối, tiếng thanh la, tiếng trống, tiếng chiêng đã nổi lên từ đầu bản. Tiếng thanh la, trống, chiêng đi đến đâu thì người từ các bản ùa ra nhập đoàn đi đến đấy. Trẻ em tạo thành một đội, thanh niên cũng tập hợp thành một đội, người già cũng thành một đội vừa đi vừa rì rụp bàn tán, lên kế hoạch để ăn trộm.

Ðoàn ăn trộm dừng lại nhà anh Lý Vần Khìn là bưu tá xã. Tiếng thanh la, trống chiêng thổi mạnh như cảnh báo, gia đình anh Khìn đã hình thành thế trận phòng ngự. Hình như được phân công từ chiều, anh Khìn và đứa con trai lớn “phụ trách” bảo vệ rượu và thịt treo trong nhà, chị vợ và đứa con nhỏ phụ trách canh phòng vườn rau. Thế nhưng, liền một lúc, tốp ăn trộm gồm hàng chục người ùa vào nhà anh Khìn, người vào nhà tìm thịt, người ra vườn rau, mỗi người tiếp cận một cách khác nhau. Anh Khìn đã bắt được vài đối tượng “chôm chỉa” không thành. Từng chai rượu cứ thế được mở để thưởng, để phạt những tên trộm.

Chẳng biết, anh Khìn đã mất gì sau khi bị hàng chục “tên trộm” viếng thăm nhưng anh cười phớ lớ: “Nhà mình chỉ mất có hơn chục lít rượu thôi, được phạt người khác nhiều hơn là phải thưởng đấy, thế cũng là may mắn rồi”. Dulichgo

< Ông Phàn Phủ Xiên (Chủ tịch UBND xã Sì Lờ Lầu) cho hay, tục ăn trộm ngày Tết lấy may của người Dao đỏ đã có từ nhiều đời trước.


Đi ăn trộm phải khua chiêng, gõ mõ

Nếu như người Dao đỏ ở Sì Lờ Lầu đi ăn trộm theo đúng nghĩa “ăn trộm”, lặng lẽ, không rủ nhau, không để chủ nhà bắt được; và đã trộm là phải trộm “tận gốc”, như nhổ tỏi thì không nên để bị đứt thì với người Dao đỏ ở Mồ Sì San (Phong Thổ, Lai Châu) thì tục đi ăn trộm ngày Tết phải khua chiêng, gõ mõ, thanh la cho cả bản biết. Ai bắt được trộm thì phạt tới phạt lui... bằng rượu cho tới say.

Như định được ý đồ của những “tên” trộm láu cá, ông Tẩn Văn Phùng, nhà ở dưới thung lũng bản Séo Hồ Thầu, đã cắt cử con cái ra góc vườn “đón lõng” rình trộm. Bà vợ của ông Phùng thì lăm le tay gậy, đứng canh những treo thịt lợn trên gác bếp...

Bà còn đang chuẩn bị sẵn sàng “ngăn chặn” tên trộm thì ngoài vườn đã có tiếng gậy đập túi bụi xuống đất, sau đó tiếng người vượt rào loạt soạt tẩu thoát. Bị mất “của” người con trai canh vườn hô hoán lớn như báo hiệu với người thân trong nhà để cảnh giác, bà mẹ sơ ý chạy ra khỏi hiên bếp nghe ngóng một tích tắc quay vào thì, ôi thôi, những treo thịt đã bị cắt mất già nửa...

< Mâm cỗ dẫn đầu đoàn "ăn trộm" đi khắp các bản.

Đã là ăn trộm thì ai lại ầm ĩ. Đi ăn trộm phải khua chiêng, gõ mõ, thanh la cho cả bản biết. Ai bắt được trộm thì phạt tới phạt lui... bằng rượu. Lại nữa, chẳng gì vui hơn, đã không bắt được trộm thì chớ, nhà ông Tẩn Văn Phùng còn bị “trộm” phạt vạ vì tội không trông được nhà cẩn thận.

Theo lời các cụ cao niên ở Mồ Sì San, hương ước của bản không có, nhưng tục đã qua nghìn mùa lá vàng rụng. Vậy ai ai cũng tuân thủ như một. Của cải lấy trong đêm chỉ là rau, củ quả, và thịt treo gác bếp... Ai động chạm vào đồ khác, coi như tội phạm thật, chứ không phải cuộc chơi nữa, mà đã là tội phạm thì không những bị bản “cạch” mặt mà còn bị mang ra chính quyền, công an xử lý.

Người Dao đỏ ở Mồ Sì San trọng khách, trọng chủ. Những gì thuộc về tục của đồng bào thì họ tối thượng đề cao, gìn giữ. Du xuân mà “ăn trộm” được nhiều thứ vào tối hôm đó, thì coi như cả năm hên. Gia chủ nào mà bị thiệt nhiều rượu, do bị “trộm” phạt lại là cả năm xui xẻo. Dulichgo

Chính vì thế mà những đêm “ăn trộm” du xuân ở những xã biên giới Phong Thổ vui đến nghiêng ngả chủ khách. Bởi “phi vụ” này cả người mất của lẫn những người “ăn trộm” chẳng hề giận nhau mà chỉ chuốc những bát rượu xuân để hả hê cười trong vòng tay của những người dân bản. Du xuân trên nẻo Tây Bắc, lạc vào “đám ăn trộm” thì đồng nghĩa với một năm may mắn, để có sức khỏe như cây trên núi, cá dưới khe. Tục thật giản dị, nhưng ắt phải có bởi đó chính là xuân ở nơi ven trời Tây Bắc.

Theo Nhật Tân (Người Đưa Tin)
Du lịch, GO!